Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 05/01/2007

THƯ CỦA MỘT CÔNG DÂN HẠNG 2 GỬI ĐẠI HỘI ĐCSVN LẦN THỨ X

Kính gửi Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X.
Đại hội X đã nhóm họp, người dân Việt Nam dù ở nơi đâu cũng đang hướng về Đại hội. Những ánh mắt có thể mang nhiều suy tư khác nhau với những cách nhìn và ước vọng không giống nhau về Đại hội. Nhưng một người dân Việt Nam, mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, dù là ai, ở nơi chân trời góc bể nào cũng không thể thờ ơ với một sự kiện gắn liền với số phận của dân tộc, của đất nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Dù bất cứ cái nhìn với thiên kiến nào, sự quan tâm đó cũng là điều đáng trân trọng. Điều đó nói lên bản chất văn hóa truyền thống yêu nước tự ngàn đời của nhân dân ta được xây đắp nên. Đó là sự quan tâm của tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc, không thờ ơ với vận mệnh đất nước trong mọi thời kỳ, trong các sự kiện, diễn biến có ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong và phát triển của đất nước.
Trong tâm tình đó, qua nhiều những trăn trở, tôi muốn gửi những suy nghĩ của cá nhân tôi qua đây đến Đại hội Đảng, cơ quan quyền lực cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực lượng duy nhất hiện nay đang nắm vận mệnh dân tộc. Những lời này, bằng tất cả tâm huyết, bằng tất cả lòng can đảm và sự thật đang diễn ra trong từng mỗi cá nhân, mỗi con người có thật trên đất nước Việt Nam thân yêu, mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang là lực lượng chịu trách nhiệm lãnh đạo, chịu trách nhiệm về những thành quả và những hậu quả của một giai đoạn lịch sử.
Là một công dân Việt Nam, sống trong lòng chế độ mới, chế độ được coi là Xã hội Chủ nghĩa. Ngay từ khi còn nhỏ đến khi lớn lên cắp sách vào trường, chúng tôi đã từng thuộc nằm lòng câu “Đảng ta vĩ đại – như biển rộng, như núi cao”. Ngay từ những khi biết cất tiếng hát đầu đời, chúng tôi đã ca vang bài hát “Đảng là cuộc sống của tôi”. Chúng tôi đã say sưa hát và say sưa sống trong niềm tin, dù cuộc sống còn muôn vàn gian khổ nhưng hết sức hào hùng trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh thống nhất nước nhà. Với chúng tôi, đã có một thời, Đảng là tất cả, là những hi vọng tốt đẹp, là những hình ảnh luôn sống động và đầy hào quang vẻ vang bằng những chiến sỹ hi sinh bản thân mình vì nghĩa lớn trên mọi mặt của cuộc sống.
Tôi nhớ những ngày xa xưa, mỗi khi có những sự kiện lớn, bọn trẻ con chúng tôi náo nức cầm trên tay cái ống bơ gỉ, cái vỏ đạn đồng làm mõ, làm chiêng từng đoàn đi cổ vũ trong sự náo nức của những người dân, những cái nhìn trìu mến và ấm áp. Những cái nhìn đó thể hiện lòng tin nơi họ. Tôi đã chứng kiến nhiều những cảnh “xe chưa qua, nhà không tiếc”, những hi sinh xương máu, mạng sống của mình không chút ngại ngần của nhiều tầng lớp nhân dân, cán bộ và chiến sỹ trong cuộc chiến thống nhất nuớc nhà. Tôi đã chứng kiến nhiều những gương anh hùng, những hành động Vì miền Nam ruột thịt, vì Chủ nghĩa xã hội của những người dân miền Bắc với một lòng kiên trinh vô hạn.
Họ sẵn sàng chết như những con chiên tuẫn đạo cho niềm tin của mình về một cuộc sống ngày mai, vì tương lai của đất nước rực rỡ, mà trước hết là lòng tin của người dân với Đảng cầm quyền lãnh đạo.
Như mọi người dân Việt Nam khác, chúng tôi vô tư lớn lên trong những sự khó khăn có nhiều khi tưởng chừng như vượt sức chịu đựng của con người với một lòng tin tưởng rằng: Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, một đội quân tiên phong, luôn lấy tiêu chí phục vụ nhân dân, phục vụ mọi người làm mục tiêu phấn đấu sẽ đưa đất nước đi lên cùng với thời đại mới. Đất nước ta sẽ tiến kịp, sẽ “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời chúc và mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhiều khi nghĩ lại không khỏi bàng hoàng tại sao trong những hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo như vậy, con người vẫn có thể sống, vẫn có thể vui cười. Tất cả đều có một cội nguồn sức mạnh: Niềm tin. Những khi đó, ý Đảng và lòng dân là một, những khi đó cuộc sống của người dân, tính mạng của người dân, hạnh phúc của nhân dân luôn là nỗi niềm trăn trở, lo lắng của từng Đảng viên, từng tổ chức Đảng từ cơ sở đến Trung ương. Những năm tháng đó, người dân tin vào Đảng bằng một niềm tin sùng kính, không một chút nghi ngờ, bởi vì trước mắt họ, hiện thân của Đảng là những đảng viên đi trước, về sau, lấy hạnh phúc của nhân dân làm lẽ sống của mình.
Thời gian trôi qua, những cuộc chiến tranh liên miên của đất nước đã động viên tận lực sức người, sức của cho việc giữ nước, lòng tin của con người trong chiến tranh vẫn không suy giảm. Thế hệ thanh niên chúng tôi đã từng cắt máu viết tâm thư xin ra chiến trường chống chế độ diệt chủng, chống quân xâm lược bành trướng phương Bắc bằng tất cả suy nghĩ và niềm tin như trẻ thơ, sẵn sàng chết cho Tổ quốc, cho dân tộc và cho Đảng.
Những năm tháng đó, được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một mơ ước, là để cống hiến nhiều hơn, để hi sinh nhiều hơn cho lý tưởng, cho tiền đồ đất nước tươi sáng mà không có chút vị kỷ nhỏ nhen tính toán.
Rồi khi nước nhà thống nhất, niềm vui thống nhất chưa trọn vẹn, khi trên đất nước còn đầy những vết thương chiến tranh chưa kín miệng, cả nước theo tiếng gọi của Đảng xây dựng lại Việt Nam đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình, chúng tôi đã chợt bàng hoàng nhận ra, nhiều hành động và cách sống của những đảng viên, đã dần dần bôi đen hình ảnh hào hùng của Đảng đã bao công xây đắp. Từ những chiến sĩ kiên trung với lý tưởng, với nhân dân, dần dần trong Đảng xuất hiện ngày càng nhiều những người cơ hội.
Tiếng nói trung thực, chí công vô tư ngày nào trong những người cán bộ, Đảng viên được tôi luyện trong lửa và máu chiến tranh yêu nước đã dần dần im tiếng hoặc nếu còn cũng chỉ là những tiếng nói yếu ớt, đôi khi lạc lõng trong cơn lốc của nhịp sống kinh tế sôi động. Nhường chỗ cho những tiếng nói trung thực, những gương sáng hi sinh là những tiếng gọi của đồng tiền, là những quan lại Cộng sản ngày càng nhiều.
Thật là một nguy cơ khi một Đảng ngày nào còn là mơ ước trong chúng tôi đã dần dần xấu đi nhanh chóng, niềm tin gần như tuyệt đối ngày nào trong chúng tôi, đã dần dần thay thế bằng những nghi ngờ, khi mà những tấm gương mù gương xấu mà trong rất nhiều những vụ án được đưa ra ánh sáng, đó là những kẻ mang trên mình tấm thẻ đảng viên ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. Điều đó có lúc đã làm chúng tôi hẫng hụt trong niềm tin và nhận thức.
Một Đảng ngày nào lấy quyền lợi, lấy lợi ích của nhân dân lao động làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu của mình, chỉ vì một tiêu chí Đảng viên cầm quyền đã tạo thành chỗ cho những kẻ cơ hội cố tình chui vào mong kiếm chác bằng mọi thủ đoạn, mọi toan tính kể cả những thủ đoạn đê hèn nhất.
Lòng tin của người dân đã đặt vào Đảng lớn lao bao nhiêu, khi bị bôi xấu bằng những hình ảnh không đẹp của một số không ít Đảng viên từ thấp đến cao đã bị ảnh hưởng và xói mòn nghiêm trọng thì sự hụt hẫng, mất lòng tin cũng lớn không kém. Điều đó không có gì lạ.
Những phần tử cơ hội chui vào Đảng, đã làm mất đi biết bao những công lao vun trồng xây đắp một hình ảnh đẹp trong lòng nhân dân của biết bao thế hệ những người Cộng sản đi trước đã hi sinh không kể máu xương, không kể bản thân gia đình, dòng tộc mình cho sự nghiệp chung.
Nhân dân Việt Nam, những người dân luôn mang trong mình lòng nhiệt thành yêu nước dần dần tỏ ra mệt mỏi và chán ngán trước hậu quả không nhỏ của những phần tử cơ hội trong Đảng tạo ra. Nhiều khi, họ đã có cảm giác rằng, niềm tin yêu vô bờ bến của họ đang bị lợi dụng và bị phản bội.
Một khi lòng tin đã không còn như trước, bị suy giảm, thì sự tập hợp sức mạnh toàn xã hội là điều không dễ dàng, thì thiên hạ bất đồng, thì nhân tâm ly tán, thì trong ngoài lục đục, thì trên dưới không yên, đó là điều dễ hiểu. Những chính sách, chủ trương dù đúng đắn, khi không nhận được sự đồng cảm, sự chia sẻ của mọi người trong xã hội, dần dần bị biến tướng và không thể thành hiện thực.
Việc gắn liền chức quyền với danh hiệu Đảng viên, đã làm không ít những người tôn thờ chủ nghĩa vật chất bằng mọi cách chui sâu, leo cao vào hàng ngũ của Đảng. Và qua họ, một số lượng cũng không nhỏ Đảng viên bị lôi kéo tha hóa theo, trong đó có cả những người đã vào sinh ra tử, đã được tôi luyện trong thép và lửa chiến tranh. Họ đã ngã gục trước những cám dỗ vật chất mà không ít cơ hội được tạo ra nhờ cơ chế đảng viên lãnh đạo. Chưa nói đến việc khi đã yên chỗ trong Đảng, những kẻ cơ hội lại tiếp tay kéo thêm những người cùng một bản chất thành những tốp, những nhóm làm cho tổ chức Đảng ngày càng tha hóa trước mắt nhân dân. Một Đảng bộ như PMU 18 vừa qua là một điển hình.
Sự dối trá đã dần dần được bình thường hóa trong xã hội Việt Nam hiện tại, một xã hội đã có cả nghìn năm văn hiến, lẽ sống của con người được đúc kết bằng những câu dạy dỗ thế hệ đời sau: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.
Những người trung thực, dần dần mất chỗ đứng cần thiết của mình trong xã hội, thay vào đó là những kẻ nịnh trên, nạt dưới, hống hách, cửa quyền, những ông “Quan cách mạng” trong thời đại mới. Họ sẵn sàng dối trá, họ sẵn sàng bất chấp sự thật, bất chấp tình cảm con người lao vào mục đích chính: Đồng tiền. Và khi trong tay đã sẵn đồng tiền, họ sẵn sàng tôn thờ chủ nghĩa hưởng thụ. Đó là con đường tất yếu phải đến của những kẻ cơ hội.
Tôi vẫn còn nhớ, một lần trao đổi chuyện nhân tình thế thái với một đảng viên trẻ, anh ta nói rất thân mật: “Với những người thẳng thắn như anh, chẳng có khi nào được vào Đảng đâu”. Một câu nói của bậc đàn em, người đã sinh ra sau chúng tôi cả một thế hệ, lên tiếng dạy dỗ chúng tôi cách để vào Đảng, những “phẩm chất” cần thiết để vào Đảng (!). Theo chúng tôi, đó là một sự nhục mạ lớn đối với lý tưởng của Đảng và đối với đất nước, dân tộc, khi Đảng là lực lượng duy nhất đang cầm quyền.
Có thể đó là nhận thức chỉ của một đảng viên trẻ, nhưng có một thực tế: Một đảng không muốn kết nạp những người trung thực, thẳng thắn vào hàng ngũ của mình, chỉ vì các chi bộ, các cấp ủy khó chấp nhận sự trung thực, thì đó là một tai họa cho Đảng. Họ sẽ tập hợp được ai?
Mới đây thôi, một lần hỏi chuyện một người đang làm chuẩn bị vào Đảng sau bao nhiêu năm miệt mài “phấn đấu” rằng: “Anh vào Đảng có phải vì lý tưởng Cộng sản, phục vụ nhân dân, phục vụ lợi ích đất nước làm đầu không?” Anh ta ngượng nghịu trả lời: “Sao hỏi khó nhau như thế”?.
Lý tưởng cộng sản, một điều mà những chiến sỹ cách mạng trung kiên không ngần ngại xưng ra với tất cả niềm tự hào tự tâm hồn mình truớc kẻ thù, đã là một cái ngượng nghịu của những người đứng trước ngưỡng cửa của Đảng. Điều đó thật không bình thường. Và người ta hiểu, anh ta không dám nói lên mục đích vào Đảng của mình vì lẽ gì.
Khi những tệ nạn đến mức không thể chấp nhận và những phương pháp đấu tranh không hiệu quả, người dân có những cách phản kháng của họ. Một trong những cách ấy là những câu chuyện tiếu lâm truyền miệng. Câu chuyện sau đây chắc cũng đáng để Đại hội suy nghĩ: Trong một cuộc họp khai trừ ra khỏi Đảng một đảng viên tha hóa, biến chất. Một quần chúng phát biểu: “Chúng tôi là quần chúng, không nhất trí nhận những người như thế này vào hàng ngũ chúng tôi. Trước đây, khi chưa kết nạp, anh ta là quần chúng tốt”.
Chính sách của Đảng lo cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh đã ì ạch khó khăn khi thực hiện, đất nước ngày càng tụt hậu. Bên cạnh đó, không tập hợp được một lực lượng không thiếu sự thông minh, tài giỏi đầy tính khách quan trong xã hội để đưa đất nước, đưa dân tộc đi lên. Những chính sách sai lầm, hậu quả của bệnh xa rời nhân dân, chỉ tiếp xúc với những báo cáo dối trá, càng tạo điều kiện cho những phần tử cơ hội lợi dụng và kéo xã hội vào vòng luẩn quẩn. Một “bộ máy hư hỏng” đã làm cho Đảng dần dần mất sức chiến đấu ngay trong khi cầm quyền trong thời hòa bình xây dựng. Đó là một thực tế.
Một ví dụ đơn giản như chính sách đoàn kết dân tộc, không phân biệt tôn giáo, thành phần, không định kiến, đã không được thực hiện, ngay cả khi có chủ trương chính sách đúng đắn. Điều đó dần dần được thể hiện trong cách cư xử, trong cách nói, cách hành động của những con người cụ thể, của nhiều tổ chức của Đảng và Nhà nước, đã thành nếp trong não trạng của những người thực hiện.
Tôi là một người Công giáo, chủ trương của Đảng là đoàn kết lương giáo, đoàn kết mọi thành phần dân tộc. Đó là một đường lối đúng đắn nhắm động viên toàn lực nhân dân xây dựng một xã hội tốt đẹp.
Nhưng qua cách xử sự cụ thể của những con người, của những tổ chức đoàn thể cụ thể, chúng tôi hiểu rằng: dưới con mắt của các cơ quan Đảng, chúng tôi chỉ là công dân hạng hai. Điều này chứng minh không khó:
Những bài báo, những chương trình truyền hình khi nói về an ninh, về chính sách, về kinh tế… của những vùng Công giáo, ngay cả khi là lời khen cũng thường đi kèm những câu nói: “Mặc dù đây là vùng có số đông đồng bào theo đạo Công giáo, nhưng tình hình an ninh chính trị vẫn giữ vững, chính sách vẫn thực hiện tốt”… Đối với người Công giáo chúng tôi, đó là sự nhục mạ lớn. Thực tế thì trong xã hội hiện nay, những vùng Công giáo lại là những vùng sống có tình người, sự bác ái nhiều nhất và ít tệ nạn xã hội nhất. Đơn giản là vì họ có một niềm tin sâu sắc vào Thiên Chúa của họ, ở đó dạy cho con người sống phải biết “yêu thương mọi người như chính bản thân mình”.
Thế nhưng, như đã thành lệ, như một định kiến, những tác phẩm về đề tài Công giáo được xuất bản bởi các nhà xuất bản của Nhà nước, là những tác phẩm của những nhà văn ăn lương Nhà nước, được đưa vào sách giáo khoa như “Bão biển”, hoặc những tác phẩm như “Cuộc đời bên ngoài”, “Giáp mặt”… khi nói về đề tài này đã có cái nhìn phiến diện, phản ánh không đúng bản chất của những người Công giáo. Và để rồi người Công giáo nhận thức được rằng, đó là cái nhìn của Đảng, của nhà nước đối với mình. Còn người khác nhìn những người Công giáo với ánh măt nghi kỵ.
Thực chất, những tác phẩm và cách nhìn đó đã làm hại không nhỏ đến chính sách Đại đoàn kết toàn dân của Đảng.
Cái mất lớn nhất là mất lòng tin. Khi lòng tin không được vun trồng chăm bón bằng thứ nước sạch sẽ, ngược lại luôn được tưới vào đó những thứ nước dơ bẩn, đầy những độc tố của sự tha hóa, nó sẽ héo mòn và chết. Khi người dân không còn niềm tin, sự tồn vong của một chế độ, một lý tưởng dù đẹp đẽ, liệu có còn không?
Thưa Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X.
Những nghịch lý tồn tại trong xã hội đã quá nhiều, quá lâu càng ngày càng trầm trọng trong sự mong mỏi của đông đảo nhân dân Việt Nam về một sự đột phá để sửa chữa, điều chỉnh. Những nghịch lý đó đe dọa sự sống còn của một Đảng, một chế độ đã có một thời được coi là chuẩn mực trong con mắt bộ phận lớn nhân dân và hiện đang là lực lượng cầm quyền duy nhất của cả đất nước. Cái lớn hơn tất cả, là Đảng đó đang cầm quyền trong khi đất nước đang tụt hậu, mọi mặt của đời sống xã hội bị băng hoại chưa tìm ra lối thoát khả quan.
Nhưng tiếc thay qua bao kỳ Đại hội “thành công rực rỡ” bao nhiệm kỳ “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ” của Đảng, những điều đó đã không được cải tiến. Trái lại, nó như một ung nhọt luôn sẵn sàng chực vỡ, dù cho đã có nhiều những sự cố gắng, hứa hẹn của các Ban Chấp hành Trung ương qua các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng thể hiện bằng rất nhiều nghị quyết và chủ trương.
Viết đến những dòng này, tôi nhớ lời nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu: “Đổi mới sau 20 năm đưa lại thành tựu như thế, tại sao Đảng lại chưa vững mạnh? Tại sao như vậy? Muốn trả lời câu hỏi này, Đảng cần phải xem lại mình, đánh giá lại mình một cách nghiêm túc. Đảng không phải không biết bệnh của mình, nên mới có Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), thế nhưng khi thực hiện lại không đủ năng lực, thiếu biện pháp, thiếu ý chí, thiếu bản lĩnh…”
Tôi cũng lại nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhắc lại trong thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gần đây: “Một Đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có dám thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có những khuyết điểm đó, xét cả hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Thực chất căn nguyên sâu xa của những vấn nạn đó ở chỗ nào?
Theo cảm nghiệm của tôi, trước hết, đó là sự tha hóa không tránh khỏi trong quá trình tuyệt đối hóa quyền lực, lợi ích của Đảng tách rời lợi ích nhân dân. Đó là cơ chế, thể chế tuyển chọn và đào tạo cán bộ là sự ưu tiên hàng ngũ “con ông cháu cha”. Đó là sự thiếu một thể chế công khai, minh bạch trong các hoạt động của Đảng và Nhà nước, trong hàng ngũ các cán bộ đảng viên giữ những trọng trách của đất nước. Đó là sự thiếu thâm nhập thật sự vào đời sống nhân dân, coi nhân dân thực sự là máu thịt của mình. Đó là sự thiếu một thể chế tuyển chọn và sử dụng những tài năng của đất nước có tâm huyết, không phân biệt thành phần, quá khứ, giai cấp, tạo ra một đội ngũ cán bộ ưu tú thực sự chứ không phải chỉ là những lời tự tán dương. Đó là sự thiếu dân chủ thật sự trong các hoạt động của Đảng cũng như các hoạt động của Nhà nước, của nhân dân để người dân thật sự là những người chủ đất nước, họ có trách nhiệm và cùng lo nỗi lo chung của đất nước như của chính mình. Đó là sự cần thiết phải quay trở lại đúng bản chất của một Đảng lấy dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh không chỉ bằng khẩu hiệu. Đó là một thể chế không lấy quyền chức làm mồi nhử cho các đảng viên và những người ngoài Đảng, để họ không thấy chức quyền là mục đích của họ. Đó cũng là việc phát huy thật sự quyền làm chủ của người dân không chỉ bằng khẩu hiệu viễn vông.
Thiết nghĩ, những điều đó không phải là mới, nhưng Đại hội Đảng X có thật sự nhận thấy nguy cơ trên hay không mới là điều quan trọng, và khi nhận thấy nguy cơ đó, Đại hội có thật sự biết hi sinh những lợi ích của mình, coi lợi ích dân tộc, đất nước là trên hết hay không, để tự mình có những cuộc chỉnh đốn và bứt phá, thoát khỏi tình hình hiện tại?
Một giai đoạn lịch sử đã qua, một trang mới đang đến, vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc đang được đặt vào trong tay của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mong đừng để lỡ cơ hội vàng của dân tộc, đừng để đất nước một lần nữa nhỡ chuyến tàu đưa đất nước đi lên. Đó là ước vọng và cũng là nhiệm vụ nặng nề toàn dân giao cho Đại hội Đảng X phải hoàn thành.
Xác định đúng mục đích, bản chất những thành tựu và cả những thiếu sót trong quá trình đã qua, nhằm hạn khắc phục những sai lầm, những hạn chế, đưa đất nước tiến nhanh trong khí thế kiêu hùng của dân tộc, không chấp nhận nỗi nhục đói nghèo, tụt hậu. Kiên quyết loại trừ tham nhũng thoái hóa trong đời sống xã hội, đó là con đường bắt buộc phải đi, vì sự trường tồn của đất nước. Những trách nhiệm nặng nề đó, đặt lên vai Đại hội X của Đảng lần này. Cụ thể hơn, lên tất cả những đại biểu tham dự Đại hội. Mong rằng, bằng tất cả lòng tự hào dân tộc, xác định rõ những trọng trách lớn lao của mình trước đất nước, các đại biểu Đại hội X xứng đáng với niềm tin, sự mong đợi của nhân dân.
Là một công dân, cũng như bao người Việt Nam khác trên mọi miền đất nước và trên khắp năm châu, tôi mong Đại hội lần này thực chất là một Đại hội xứng tầm cao và nhiệm vụ nặng nề của mình trong bối cảnh hiện tại của Đất nước. Đưa Việt Nam vững bước tiến lên theo kịp năm châu.
Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2006.
Một công dân ngoài Đảng.
Email: Vinh1962@yahoo.com

————————————————————————————————————————–

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: