Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 22/07/2010

GHVN trong Năm Thánh 2010: Những thử thách khắc nghiệt

Những sự kiện vừa qua trong Giáo hội Công giáo Việt Nam đã làm chấn động đến nhiều tâm hồn tín hữu không chỉ ở trong nước mà còn vượt biên giới quốc gia, lôi kéo sự chú ý của những người từ nhiều nước trên thế giới.

Chưa bao giờ trong lịch sử GHCGVN với gần 500 năm truyền đạo và 350 thành lập hai giáo phận, cũng như 50 năm thành lập Hàng Giáo phẩm VN xuất hiện những vấn đề được nhiều người quan tâm như vừa qua.

Những cuộc bổ nhiệm, thuyên chuyển, những công việc mục vụ, đường lối làm việc, cách cư xử… của nhiều đấng bậc và ngay cả HĐGMVN lần đầu tiên được đem ra mổ xẻ, bàn tán gây nhiều sóng gió trong lòng người.

Rõ ràng, đây không hề là chuyện nhỏ, nó đang thực sự là những vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc từ các đấng bậc cao nhất đến hàng giáo dân, từ những tổ chức phẩm trật cao cấp đến từng đoàn thể nhỏ trong Giáo hội nếu không muốn dẫn đến một Giáo hội hỗn loạn và bất lực, thậm chí mất cả niềm tin về một Giáo hội Việt Nam oanh liệt được xây nên bằng những núi xương, sông máu của các Thánh Tử đạo.

Một số chức sắc đã lên tiếng, một số đấng bậc đã giải thích, một số cơ quan truyền thông, những nhà lý luận, thần học… đã có ý kiến. Nhưng xem ra chừng đó chưa đủ, chưa làm giảm đi những bức xúc, đòi hỏi của thời cuộc đối với Giáo hội Công giáo trước những vấn đề thực tế đặt ra.

Thực trạng

Giáo hội Công giáo Việt Nam vốn được coi là một giáo hội kiên cường, bất khuất, anh dũng, đạo đức, đầy tính nhân ái, hiệp thông… Đó là niềm tự hào của bất cứ người công giáo Việt Nam nào, thế nhưng nay đã và đang rơi vào một tình trạng thê thảm chưa từng thấy. Một HĐGMVN vốn luôn giành được sự kính trọng và vâng phục bởi uy tín và sự tin tưởng của hàng triệu giáo dân bỗng nhiên tụt hạ úy tín đến giật mình. Một giáo hội kiên cường, hiệp nhất được lãnh đạo bởi một HĐGM đã từ im lặng khi cần lên tiếng đến buộc phải im lặng khi bị công kích.

Trong khi từ một giáo hội Ba Lan xa xôi đã vang lên những lời kêu gọi: “Chúng ta phải nói to lên, Giáo hội đang bị bách hại tại Việt Nam” thì ngay tại VN, một HĐGM im lặng như vô cảm. Không có gì có thể giải thích hoặc biện bạch cho sự im lặng này. Chính sự im lặng này đã là nguyên nhân để đẩy HĐGM vào thế bị động, lúng túng và bất lực, thụ động như hiện nay và gây nên sự hoang mang không cần thiết trong hàng giáo sỹ, giáo dân.

Giáo dân của một Giáo hội Việt Nam qua thử thách hàng thập niên dưới thời cộng sản khét tiếng vẫn luôn ngẩng mặt cao đầu trước GHCG hoàn vũ vì không bị chinh phục, mua chuộc và luôn hiệp thông, vâng phục Tòa Thánh, nay bỗng nhiên tỏ ý nghi ngờ những quyết định của Tòa Thánh liên quan đến những sự việc cụ thể trong lòng GHVN.

Một đoàn chiên Việt luôn tự hào và hết lòng kính phục, bảo vệ các chủ chăn và đấng bậc nay quay lại đòi hỏi sự quan tâm của các chủ chăn và không ngần ngại nói lên nỗi ngờ vực sự trung tín của chủ chăn khi họ coi sự im lặng là đồng lõa với tội ác.

Một Tổng Giám mục được giáo dân yêu chuộng bỗng nhiên ra đi bí ẩn giữa đêm hôm không một lễ tiễn đưa, không một cái bắt tay tạm biệt.

Một Tổng Giám mục mới im lặng như vẫn im lặng xưa nay để xa cách lòng dân một cách đau đớn.

Một cộng đoàn tín hữu vốn luôn coi phụng thờ và những lời chủ chăn là vàng đá, nay bỗng nhiên quay lại phản ứng dữ dội khi những nghi thức phụng tự bị biến tấu trộn lẫn vô thần.

Thậm chí, một số chủ chăn đã không ngại ngần lên tiếng trí trá để che đậy những sự thật mà ai ai cũng biết càng làm cho sự nghi ngờ của giáo dân tăng lên.

Những điều đó thật sự là một thảm họa cho Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Nguyên nhân

Nhiều người đã nói đến những nguyên nhân khác nhau, có người cho rằng do “một số thế lực chống phá giáo hội”, người thì nói: chính những đấng bậc có thế giá trong GHCG đã làm tan nát GHCG bởi những “dàn đồng ca” thỏa hiệp và khoan nhượng, bị mua chuộc, bị nắm gót và đi ngược đường lối của Hội Thánh Chúa…

Xem ra, câu chuyện tranh cãi này còn khuya mới tìm được câu trả lời.

Chúng tôi cho rằng: Nguyên nhân của mọi nguyên nhân gây sóng gió cho GHCGVN chính là thể chế cộng sản vô thần vốn luôn luôn coi “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” và những vấn nạn vừa qua có nguyên nhân sâu xa từ đó.

Chúng ta biết rằng, trên thế giới, những chuyện như vậy không phải không xảy ra. Những nước “cựu” cộng sản đã nếm đủ những đòn oan nghiệt như Ba Lan, Tiệp Khắc…

Đã từng có những cuộc chiến truyền thông mãnh liệt ở Ba Lan, khi những điệp viên mang áo mục tử – những mục tử hợp tác với cảnh sát cộng sản – bị phanh phui. Dù đau đớn nhưng đó là sự thật.

Đã từng có những cuộc đòi hỏi dai dẳng những tài sản của Giáo hội bị cướp bị chiếm trong thời cộng sản hoành hành ở Tiệp Khắc và kết quả là rất khả quan.

Tất cả những điều đó đang diễn ra trong lòng GHCGVN, và trong cơn bão truyền thông và nhận thức, vấn đề được đặt ra cần coi là sự nghiêm túc để nghiêm túc nhìn nhận lại mình, nhìn nhận lại chính bản thân Giáo hội và từng đấng bậc trong hàng giáo phẩm. Bởi không ai có thể khẳng định được rằng ở Việt Nam không như ở Ba Lan, không có những cây gậy mục tử chăn chiên theo định hướng của công an cộng sản vô thần.

Sau gần 2/3 thế kỷ, trải qua nhiều thế hệ người công giáo Việt Nam sống dưới chế độ cộng sản vô thần với muôn vàn cuộc cách mạng, chiến dịch, kế hoạch… bằng tiền của của người dân lao động, thậm chí bằng cả nguồn tiền viện trợ từ các nước ngoài để nhà nước CSVN đặc biệt quan tâm đến tôn giáo, không ai có thể khẳng định là họ không có những thành công.

Đặc biệt hai chục năm qua, kể từ khi Vatican đặt mối hi vọng bang giao và đã chấp nhận một điều không giống ai đối với nhà nước Cộng sản Việt Nam là nhượng bộ để nhà nước CSVN can thiệp vào việc tuyển chọn giám mục, thì những hậu quả tai hại cho GHVN là điều có thật. Trong bài viết “Hai mươi năm tiến trình bang giao, được và mất” chúng tôi đã phản ánh tình trạng này.

Cũng cần nói thêm điều này: Những năm đầu tiên, khi Hồng y Etchegaray đến Việt Nam nói về bang giao, là lúc những cường quốc cộng sản đang thi nhau tự đào hố chôn mình. Chắc hẳn vì nhìn thấy xu thế đó, mà Tòa Thánh đã nhận định chế độ ở CSVN cũng đang trên đường đi đến phần mộ của mình và quãng đường không còn dài. Vì vậy có chấp nhận điều đó cũng chỉ được một thời gian ngắn mà thôi.

Nhưng quả là sự dai dẳng và lắt léo cũng như sự lỳ lợm của CNCS vẫn cứ như một nghiệp chướng bám lấy dân tộc này. Và vì thế, Giáo hội CGVN đang hứng chịu hậu quả của những thỏa hiệp đó.

Vậy thì việc có những mục tử thỏa hiệp, có những điệp viên trong lòng giáo hội là điều dễ hiểu. Và khi công nhận điều đó, thì đương nhiên phải công nhận những hậu quả của tình trạng đó như một quy luật khách quan.

Lịch sử chiến tranh VN đã có nhiều bài học của việc CSVN lợi dụng tôn giáo cho những kế hoạch của mình một cách công phu, tỷ mỉ và đã có những điển hình như Vũ Ngọc Nhạ…

Vấn đề là những tranh cãi, những biện luận, những quy kết và bằng chứng… những giải thích và phản biện… chỉ mới loanh quanh xung quanh những hiện tượng mà chưa nói đến bản chất sâu xa của nó.

Thỏa hiệp và liên minh tiêu diệt

Nhiều đấng bậc đã nói lên quan điểm rõ ràng rằng cần đối thoại và đối thoại là xu hướng chung của thế giới và là đường lối của Giáo hội Công giáo sau Công đồng Vatican 2. Thậm chí có vị còn vạch ra cả một “phương hướng đối thoại và hợp tác” hẳn hoi.

Tất nhiên, ai cũng biết là cần đối thoại và đối thoại là phương hướng tốt, nhưng có những câu hỏi nếu chưa được trả lời thì đừng nghĩ đến đối thoại. Trong bài viết “Phương hướng đối thoại và hợp tác, cần nhưng chưa đủ” chúng tôi đã nói đến vấn đề này. Đồng ý là đối thoại, nhưng đối thoại với ai, đối thoại như thế nào? Bởi vì không thể đối thoại với một người mà trong tay luôn luôn lăm lăm khẩu súng với một lý thuyết bạo lực làm đường hướng cho hành động, không thể đối thoại khi một bên nhất định không nhìn nhận bên kia, cách đối thoại đó chỉ là sự van xin hèn nhát của kẻ cô thế cô thân mà thôi. Chính Đức Giáo hoàng Benedict XVI đã kêu gọi “Đối thoại thẳng thắn và cộng tác chân thành” chứ không phải là sự van xin.

Xem ra nhiều vị uyên thâm học cao, hiểu rộng đã sống lâu và nhận được nhiều bài học từ thể chế cộng sản, nhưng thực tế thì vẫn chưa đủ để rút ra một kinh nghiệm xương máu cho vấn đề này.

Cũng có những người cho rằng, ngay cả người cộng sản, cũng là “dân ngoại” cần được cứu độ và yêu thương, cần truyền giáo cho họ. Không ai phủ nhận những người cộng sản cũng là những con người, mà đã là con người thì được hưởng ân sủng của ơn Cứu độ.

Tuy nhiên, người ta đã nhầm một điều cơ bản, đó là còn là người cộng sản, thì ơn cứu độ đối với họ là sự dư thừa và vô ích. Bởi chưng, bản chất, lý thuyết và thực tế cộng sản là một thể chế vô thần, phủ nhận Thiên Chúa cách ngoan cố. Chủ nghĩa cộng sản vô thần không bao giờ công nhận ơn Cứu độ bởi không thừa nhận Thiên Chúa. Vì vậy nếu còn là người cộng sản, việc nói đến ơn cứu độ đối với họ chẳng có lợi ích gì vì tự bản chất họ luôn luôn cố tình khước từ và chống lại ơn kêu gọi – và đây là “tội phạm đến Chúa Thánh Thần” – một tội không thể được tha thứ.

Chỉ có những người đã từ bỏ Chủ nghĩa cộng sản trên thực tế thì ơn cứu độ mới có chút tác dụng với họ mà thôi, mà khi đó thì họ không còn là người cộng sản nữa.

Những năm gần đây, khi khối cộng sản thế giới đua nhau sụp đổ không thể cưỡng lại, các mống cộng sản còn lại sống trong đói nghèo, tụt hậu và cô đơn với nguy cơ bị tiêu diệt. Khi đó, lòng kiêu ngạo cộng sản không còn cơ sở để tồn tại, những người Cộng sản mới chịu chấp nhận để mở cửa ra thế giới bên ngoài. Và cũng khi đó, họ kêu gọi thành lập những mối liên minh, mặt trận và nhiều đoàn thể khác “tốt đời đẹp đạo” bằng cách “đối thoại”… thậm chí còn mở quá trình bang giao với Vatican.

Vậy nhưng theo đúng lý thuyết cộng sản, ngoài những mối liên minh phát triển, còn có những mối “liên minh tiêu diệt”. Nghĩa là tôi liên minh với anh khi không thể khác, nhưng mối liên minh này là để thôn tính và tiêu diệt anh khi có thể. Mặt trận là một hình thức để thực tế hóa điều này. Ủy ban Đoàn Kết Công giáo là một mô hình cụ thể của chính sách đó.

Nói đến những điều đó, để thấy rằng mọi thỏa hiệp để hòng tồn tại, chung sống và phát triển là điều phiêu lưu. Đúng đường lối của chủ nghĩa Cộng sản, với tôn giáo, trước hay sau, sớm hay muộn đều phải được dọn sạch, đó là quy luật bản chất của cộng sản.

Thánh ý Chúa hiển thị – Giáo hội VN phải làm gì?

Những biến động vừa qua trong GHCGVN đã là cơ hội cho nhiều ý kiến được nêu ra, nhiều cuộc tranh cãi, tin đồn và tin tức được loan truyền bằng nhiều cách dẫn đến những xáo trộn trong suy nghĩ của nhiều người.

Những điều này có nguyên nhân của nó.

Sau nhiều biến cố xảy ra trong Giáo hội mà gần đây nhất là Tòa Khâm sứ, Thái Hà rồi Tam Tòa, Loan Lý, Dòng Thánh Phaolo Vĩnh Long, Thủ Thiêm… đã có nhiều báo động về một tình trạng khó khăn do chính nhà nước CSVN đem lại cho giáo hội bằng những sự kiện do họ tạo ra và qua đó cũng báo động thêm một điều nữa là tình hình nội bộ trong Giáo hội có những vấn đề không thể che đậy, ngày càng bộc lộ rõ ràng.

Đến khi Thánh Giá Đồng Chiêm bị đập nát, những thử thách đó đang hiển thị rõ nét. Trong bài viết “Thánh giá Đồng Chiêm, cơn thử thách khắc nghiệt với tín hữu Kitô” chúng tôi đã nhận định rằng: “Nếu không có sự hiệp thông trong toàn Giáo hội Công giáo khi Thánh Giá đã bị xúc phạm đập phá ngang nhiên và trắng trợn, thì khi đó có nghĩa là đã có một sự “Mầu nhiệm” xảy ra. Đó là sự “mầu nhiệm” về những “thành công” của chính quyền Cộng sản Việt Nam đối với Giáo hội Công giáo”.

Và quả thật, thực tế đã diễn ra điều không may mắn đó trong lòng Giáo Hội Việt Nam để dẫn tới tình trạng thê thảm ngày hôm nay.

Điều này, cũng phản ánh một thực tế không thể phủ nhận trong lòng Giáo hội VN đã và vẫn tồn tại đến ngày hôm nay: Sự thiếu hợp nhất và đồng hành cùng với những người nghèo khổ như sứ mạng của Hội Thánh Chúa.

Nhưng không vì thế mà bi quan, không vì thế mà thất vọng trước hiện trạng của GHVN, Thiên Chúa quan phòng biết cần phải làm gì cho GHVN nếu chúng ta còn có niềm tin vào Ngài. Những tiếng nói đã cất lên ngay từ trong hàng ngũ giáo dân, hàng giáo phẩm để nói lên một sự thật không ai mong đợi cần được khẩn cấp chỉnh đốn và sửa chữa để con thuyền Giáo hội đủ sức vượt qua bão tố về bến bình yên.

Những tiếng nói phản biện cất lên đó là cơ hội để tất cả chúng ta nhìn lại, đó cũng là lúc “mọi thành phần Dân Chúa đã có cơ hội nói lên nguyện vọng của mình một cách chân thành, đồng thời cũng có kinh nghiệm sâu sắc hơn về vai trò và sứ mệnh của các phương tiện truyền thông thời hiện đại”“các bậc chủ chăn được lắng nghe tiếng nói cộng đồng Dân Chúa cách phong phú và cụ thể hơn, đồng thời cũng học được bài học biện phân cách bình tĩnh hơn đối với những thông tin mỗi lúc một đa dạng, đa chiều và phức tạp hơn”. “Dù khác biệt, thậm chí có khi là đối lập, nhưng tất cả mọi quan điểm đều có một mẫu số chung là lòng yêu mến Giáo Hội. Suy nghĩ và cách biểu hiện khác nhau, nhưng lòng yêu mến vẫn là một”. (Đức GM Giuse Nguyễn Chí Linh – Phó Chủ tịch HĐGMVN phát biểu tại lễ đón Tân TGM Phó Hà Nội 7/5/2010).

Chính những tiếng nói phản biện và những phản ứng của nhiều thành phần đã tạo nên những biến đổi lớn khi buộc phải biến đổi.

Tân GM Giáo phận Vinh – Đức Cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp – được nhiều người cho là “thân cộng”, là “khó hiểu” đã nêu lên những điều cần thiết như một nét mới cần làm của GHCGVN, đó là: Đối với HĐGMVN “Phải chăng trước khi đối thoại với Nhà nước hay để có thể đối thoại hữu hiệu với bên ngoài cần “đối thoại thẳng thắn và công tác chân thành” với Cộng đồng Dân Chúa?”

Với Tòa Thánh và GHCG: “Không phải vô lý mà một số người yêu cầu nên xác định rõ hơn vai trò của Nhà nước trong tiến trình bổ nhiệm giám mục tại Việt Nam. Phải chăng nên dần dần áp dụng tiến trình chung đang được áp dụng tại hầu hết các nước trên thế giới thể theo Giáo luật, Điều 377?” và  “Thiết tưởng cũng đã đến lúc nên thẳng thắn phê bình và đóng góp ý kiến với Nhà nước về những gì bất ổn hay chưa hoàn thiện, nhất là những gì liên hệ đến nhân phẩm và nhân quyền”.

Nhiều tiếng nói khác đã đồng loạt cất lên, không ngại ngùng kể cả những nơi, những địa chỉ nhạy cảm nhất để nói lên sự thật. Thậm chí có những điều mà xưa nay, chưa ai nói đến.

Phải chăng, đây cũng chính là Thánh ý Chúa đang thể hiện, đặc biệt trong Năm Thánh 2010 của giáo hội Công giáo Việt Nam mà điều được kêu gọi đầu tiên là Sám hối để canh tân, sám hối để giáo hội có thể đi theo chủ đề “Mầu nhiệm – Hiệp thông – Sứ vụ” một cách thực tế mà không phải chỉ là một Năm Thánh hình thức bởi những cuộc lễ lạt khai mạc và bế mạc hoành tráng mà thôi.

Giáo hội Việt Nam phải làm gì?

Là tín hữu Công giáo, tín thác niềm tin vào Đức Kito, dù ở cương vị nào chúng ta cũng thấy cần phải đóng góp sức mình để giáo hội ngày càng vững mạnh bằng cách này hay cách khác tùy khả năng.

Không có một tín hữu nào không sợ sự trừng phạt khi đã có lòng tin vào Thiên Chúa. Vì vậy, dù là những giáo dân lạnh nhạt, dù là những người đã bỏ theo cộng sản bởi trào lưu, bởi manh áo miếng cơm… đến những mục tử, những đấng bậc cam tâm làm điệp viên cho cộng sản… Tất cả đều đứng trước một con đường chọn lựa đã dần dần rõ nét và đến lúc phải đối diện với chính lương tâm, tâm hồn mình.

Chúng tôi cho rằng, mỗi con người bằng trí lực Thiên Chúa đã ban cho để nhận ra rằng sự tồn tại và phát triển của Giáo hội là điều khẩn thiết và cấp bách. Những điều này, các phẩm trật, chức sắc cao cấp của giáo hội đến các giáo dân không thể làm ngơ. Truyền thống anh hùng tử đạo của hơn 300.000 con người vẫn sôi trong huyết quản mỗi giáo dân trên đất Việt. Vì vậy không thể để một giáo hội đi xuống trầm trọng và thê thảm hơn.

Trước hết, để có thể “đồng hành cùng dân tộc” HĐGMVN cần gương mẫu xem xét lại chính bản thân mình trước khi xem xét bất cứ ai khác để cùng đồng hành với ngay con cái mình trong những hoàn cảnh nghèo đói, cô đơn, đau khổ, bị áp bức theo đúng đường lối của Hội Thánh Chúa.

Nếu bằng bất cứ hình thức nào, HĐGMVN vẫn thụ động theo một đường lối “Im lặng là vàng” như xưa nay, thì đây sẽ là sự vàng vọt, héo úa để dẫn đến cái chết được báo trước trong lòng giáo hội Việt Nam.

Cũng đã đến lúc, ngay cả các giám mục, linh mục và các giáo dân phải đặt mình về đúng vị trí của mình trước mặt Thiên Chúa với vai trò trong Hội Thánh, đừng nhầm tưởng chiếc ghế hoặc vị trí trên thế gian xưa nay đã có để hành động theo những yêu cầu của chiếc ghế này.

Đây cũng là lúc đặt Giáo hội trước một sự lựa chọn khắc nghiệt: Bước lên hay gục ngã…

“Chính lúc quên mình, là lúc gặp lại bản thân”. Chính khi Giáo hội bước lên, những mục tử chân thành, thánh thiện càng vững vàng hơn và những kẻ chăn thuê sẽ  không còn chỗ để ẩn nấp.

Dám nhìn thẳng vào sự thật để sám hối, canh tân, Giáo hội Việt Nam sẽ vững vàng bước qua cơn thử thách này.

Hà Nội, 21/7/2010

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh

Trả lời

  1. Cám ơn anh Vinh, lâu lắm rồi mới được đọc bài viết của anh về Giáo Hội Việt Nam. Nguyện Chúa luôn ở cùng và chúc lành cho anh. Xin phép được copy bài của anh vào đây: http://luongtamconggiao.wordpress.com/2010/07/22/ghvn-trong-nam-thanh-2010-nh%E1%BB%AFng-th%E1%BB%AD-thach-kh%E1%BA%AFc-nghi%E1%BB%87t/

  2. Xin cảm ơn anh NHV.viết bài nhận định thẳng thắn
    về hiện tình đáng báo động của giáo hội CGVN.

  3. Cảm ơn anh về bài viết sâu sắc này. Có lẽ anh đã đúng khi nhận định về một phạm trù rất đặc biệt là LIÊN MINH TIÊU DIỆT.
    Chúc anh có thêm nhiều NGỌN NẾN như vậy.

  4. Ánh Sáng Cho Ðền Thờ

    Tại một khu phố cổ của Ấn Ðộ, trên đường cũng như trong nhà thường không có đèn. Giữa những khu phố như thế, thỉnh thoảng người ta thấy mọc lên một ngôi đền Ấn Giáo. Dĩ nhiên, trong những ngôi đền như thế, ánh sáng cũng không bao giờ được đốt lên thường xuyên. Dù vậy, từ trên nóc đền thờ cũng như dọc theo bốn bức tường, người ta thấy có treo những chiếc lồng đèn. Khoảng trống trong những chiếc lồng đèn ấy vừa vặn để cho vào một chiếc đèn dầu. Bình thường, ngôi đền thờ vắng lạnh vì tăm tối. Nhưng, cứ mỗi sáng sớm, khi các tín hữu dùng đèn soi lối để đi qua các khu phố, họ cũng mang chính ngọn đèn ấy và đặt vào trong những chiếc lồng đèn trong đền thờ. Thành ra, khi mỗi tín hữu đặt ngọn đèn của mình vào trong các lồng đèn, thì ngôi đền thờ bỗng sáng rực lên một cách kỳ lạ…

    Ngôi đền thờ chỉ sáng lên nhờ chính những ngọn đèn mà các tín hữu mang đến. Ðó có lẽ phải là hình ảnh đích thực của đời sống đạo chúng ta. Chúng ta lãnh nhận đức tin từ một cộng đồng Giáo Hội và đức tin của chúng ta chỉ có thể sống và lớn mạnh trong cộng đồng Giáo Hội mà thôi. Không ai có thể là người tín hữu Kitô mà có thể ở ngoài Giáo Hội.

    Cộng đồng giáo xứ nơi chúng ta được sinh ra và lớn lên trong đức tin thường được biẻu trưng bằng một ngôi thánh đường. Chính nơi đó người tín hữu Kitô gặp gỡ nhau, chính nơi đó, người tín hữu Kitô chia sẻ và củng cố đức tin cho nhau. Ngôi thánh đường sẽ chỉ là một đền thờ lạnh tanh và tăm tối nếu mỗi người tín hữu không mang đến chính ánh sáng của mình. Mỗi người một ít, nhưng chính nhờ sự đóng góp ấy mà ngôi đền thờ trở nên rực sáng và tràn đầy sức sống.

    Mỗi một người tín hữu Kitô trong cộng đồng Giáo Hội cũng giống như một ánh đèn chiếu sáng trong tay để làm cho ngôi thánh đường của cộng đồng giáo xứ được sáng lên.

    Trích sách Lẽ Sống

  5. Triết gia Aristote đã một thời lỗi lạc rồi cũng qua đi
    Thuyết Karl Marx một thời vang danh rồi sụp đổ
    Tư tưởng cá nhân luôn có một giới hạn.
    Nhưng Giáo Hội có Chúa Thánh Linh dẫn đường thì luôn tồn tại. Có lẽ nhiều người đã bất mãn vì con đường cứu độ của Chúa quá phức tạp trong khi Ngài chỉ cần tha tội.

  6. […] http://jbnguyenhuuvinh.wordpress.com/2010/07/22/ghvn-trong-nam-thanh-2010-nh%E1%BB%AFng-th%E1%BB%AD… […]


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Chuyên mục

%d người thích bài này: