Những năm gần đây, người dân vốn đã mệt mỏi ngoài việc phải trần lưng quần quật làm lụng, kiếm ăn, để đáp ứng nhu cầu thu các loại thuế, phí của nhà nước chồng chất và ngày càng tăng cao… thì lại còn khốn khổ vì  bị mất sức bởi những trận cười nghiêng ngả từ những câu nói của quan chức nhà nước. Cũng có thể nói rằng: Chưa bao giờ, các lời nói quan chức thể hiện mức độ ngớ ngẩn đến vô lý không ai có thể tưởng tượng vẫn liên tục được đưa ra để giải thích, để lý giải cho các việc làm của họ khi tiêu phá tiền dân hoặc liên quan đến trách nhiệm của họ trước người dân.

Chẳng vậy mà hiện nay ở Việt Nam, khi nghe một quan chức phát biểu những câu nói những câu ngớ ngẩn, họ lập tức buông một lời “thằng ngáo đá”. Ngáo đá – đó là từ để chỉ hành động trong trạng thái vô thức của kẻ dùng ma túy đá với những biểu hiện hoang tưởng ảo giác, rối loạn hành vi nhân cách.

Điểm lại quá trình cải cách, cải tiến của ngành Giáo dục Việt Nam những năm qua, người dân thở dài não ruột: Toàn một lũ ngáo đá phá hoại tiền dân.

Những quan chức “ngáo đá”

Về ông Bộ trưởng Phạm Vũ Luận, có lẽ không phải bây giờ người ta mới hò nhau ném đá vào ông. Bởi trước đó, nhiều lần ông đã phát biểu nhiều lời ở cương vị Bộ trưởng, nhưng người dân thì nghi ngờ ông bị “ngáo đá” khi nghe những lời ấy.

Chẳng hạn, ông nói Tôi coi đây là một trận đánh lớn” khi mở màn cho cuộc cải cách này. Rồi ông khẳng định: “Đã học kém thì không thể có đạo đức tốt được”. Có lẽ ông đã rút kinh nghiệm trực tiếp thông qua bộ máy quan chức của đất nước về điều này chăng?

Rồi thì “Quá trình dạy và học đã thay đổi, từ chỗ dạy cho số đông sang chú ý đến hình thành phát triển từng cháu. Trước đây giáo viên nói dạy 1 lớp 40 cháu nay chuyển sang dạy 40 cháu trong 1 lớp”. Thật là những câu  nói không thể dùng từ nào khác ngoài từ “ngớ ngẩn”.

Thế rồi kỳ tuyển sinh đợt 1, khi mà cả hai chục ngày cả triệu thí sinh bị đưa vào ma hồn trận, cứ như chơi chứng khoán với số mệnh của mình. Trong khi một bà mẹ phải thuê xe cấp cứu đưa con từ Hà Tĩnh ra Hà Nội để kịp nộp hồ sơ. Phụ huynh và học sinh từ xa đến thuê chỗ ở, chờ chực cả ngàn đứa trong ngày nóng nực ở Hà Nội để hết nộp lại rút, hết rút lại nộp, trong khi điểm số trúng tuyển cứ như trò ú tim. Cả xã hội mệt mỏi, hỗn loạn… Thì ông lên tiếng rằng “học sinh lo lắng như vậy để trưởng thành” hoặc “Ngày tôi đi học làm gì có thông tin như bây giờ”… càng làm bức xúc người dân.

Thế là nổi lên một trận bão mạng ném đá túi bụi vào ông, yêu cầu ông từ chức, xin lỗi…

Tuy nhiên, việc ném đá thì cứ ném, việc từ chức là việc hão huyền.

Bởi không chỉ có ông Bộ trưởng Giáo dục Việt Nam hiện nay, mà hàng  ngũ quan chức không thiếu những câu nói và thái độ “ngáo đá” trước bàn dân thiên hạ. Có thể kể vài trường hợp điển hình như sau mà không cần bình luận:

– Khi Đại biểu quốc hội đề nghị giảm số Tướng thì ông Phùng Quang Thanh phát biểu rằng: “Không phong tướng, anh em tâm tư”. Rồi thì ông tướng này còn những câu để đời khác nữa. Khi giặc Tàu đã vào tận thềm nhà, ông vẫn nói: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”.

Hoặc ông phát biểu khi đối thoại Shangri-la 13 tập trung vào vấn đề Trung Quốc đang xâm lấn biển đông: “Thưa các quý vị! Quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nên đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng”. Dù ông là Bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam.

– Tổng TTCP Huỳnh Phong Tranh cho rằng tham nhũng ở Việt Nam trong 3 năm qua (2012-2014) có tính chất ổn định.

– Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc nói: “..tình hình đi làm thuê và bán vé số rất phổ biến nhưng có thu nhập cao, họ đủ trang trải cho một ngày ăn”.

– PGS.TS Nguyễn Hữu Tri, Viện phó phụ trách Viện Xã hội học và Khoa học quản lý nói rằng: “Cần luật hóa cho phép chạy chức, chạy quyền”.

– Dương Đức Tuấn, PGĐ Sở Quy hoạch kiến trúc TP Hà Nội, đã nói: “Còn Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội cũng thừa nhận đường Trường Chinh có cong, nhưng là ‘cong mềm mại…”. Cái “đường cong mềm mại” này đã trở thành khẩu ngữ trong dân gian.

Mà cần chi nói đến ba đám quan chức tẹp nhẹp cỡ thứ bộ trưởng, giám đốc sở. Chỉ ngay đến những quan chức lãnh đạo trong Bộ Tứ của triều đình Cộng sản, người ta không thiếu những câu “ngáo đá” để truyền đời:

– Tại Hội nghị Đại biểu Quốc hội ngày 11/4/2014, CTQH Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh: “QH tức là dân, dân quyết sai thì dân chịu, chứ kỷ luật ai?”.

– Tiếp xúc với Cử tri Hà Nội ngày 6/10/2014 Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu: “đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Tức là phải giữ cho được cái ổn định”.

– Cũng lúc tàu đưa giàn khoan vào biển Việt Nam, sự xâm lược đã rõ ràng, thì ngày 1/7/2014, Nguyễn Phú Trọng nói: “người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau, có ai chọn được láng giềng đâu”.

– Vũ Đức Đam, Phó Thủ tướng chính phủ phát biểu khi Tàu đưa giàn khoan vào sâu trên biển Việt Nam rằng: “Đời tôi, đời các bạn chưa đòi lại được, thì đời con cháu chúng ta phải tiếp tục đòi…”. Thậm chí ông còn đưa ra quan niệm: “nếu chúng ta không giáo dục cho con cháu rưng rưng khi hát Quốc ca thì đất nước không thể giàu mạnh”.

– Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã chẳng từng “ngáo đá” đến phải xin lỗi khi nói: Tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm…” trong khi dân chết ngập chết lụt hàng chục người thì ông ta vẫn lo họp về chuyện cướp đất nhà thờ, tôn giáo.

Mới đây thôi, khi cả Hà Nội đang lo về môi trường ô nhiễm, nghẹt thở, thì bộ máy dưới quyền ông cho chặt cả ngàn cây xanh. Bị phản ứng dữ dội, ông ta nói: “Việc chặt hạ cây xanh không đúng cũng có mức độ”.

Có thể nói là không thể kể hết những câu nói ngớ ngẩn và ngu xuẩn của các lãnh đạo Việt Nam, đội ngũ luôn tự xưng là “Đỉnh cao trí tuệ” của Việt Nam đã xuất hiện đều đều trên mặt báo. Thậm chí có những ông mà người dân phải thốt lên là“nói câu nào ngu câu đó”.

Với một hệ thống quan chức như vậy, nếu đòi từ chức thì người ta lại nhớ câu ngáo đá của ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Cứ vi phạm mà kỷ luật hết thì lấy ai mà làm việc”.

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân

Điều mà người dân không thể hiểu được, là tại sao những người đứng đầu đất nước, các bộ trưởng cũng như cán bộ cao cấp, thậm chí là người đã từng du học ở các nước phát triển hẳn hoi mà vẫn phát biểu những câu nói mà theo người dân thì “ngu không thể chịu được”?

Trả lời câu hỏi này, có nhiều nguyên nhân, trong đó có nạn con ông cháu cha, nạn chạy chức chạy quyền, nạn hối lộ tham nhũng… nhưng nguyên nhân chính vẫn là hệ thống chính trị độc tài với một hệ thống giáo dục lấy Chủ nghĩa Mác – Lenin làm căn bản.

Trong hệ thống đó, học sinh bị cưỡng chế nhồi nhét một hệ thống tư duy hoang tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lenin. Quan chức muốn thăng quan tiến chức phải “thấm nhuần tư tưởng” theo nó. Vì thế nên hậu quả cho đất nước ngày càng nặng nề.

Học sinh có thể học trung bình hoặc chạy điểm ở các môn chuyên môn, nhưng không thể trượt các môn Chủ nghĩa Mác – Lenin trong trường Đại học. Đó là những môn chính buộc phải vượt qua, dù anh có giỏi bằng trời, thì không qua các môn đó, coi như… vứt. Có thể nói, học sinh sợ bộ môn Mác – Lenin trong trường đại học như sợ hủi.

Nhưng nhà nước coi đây là ưu tiên số 1 trong đào tạo. Chẳng thế mà Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình Bùi Văn Phương, – Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đã đề nghị quân hàm tướng cho Trưởng khoa Mác – Lê Nin đó sao.

Hãy nhìn xem, các ngành đào tạo của học viện báo chí, tuyên truyền thuộc Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh tuyển sinh đào tạo những ngành như: Triết học chuyên ngành Mác – Lenin,  Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội, Lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng CS Việt Nam, Xây dựng Đảng và nhà nước, Chính trị chuyên ngành quản lý tư tưởng – văn hóa… Hàng năm cho ra lò một đống của nợ này, lại được bố trí vào trong các cơ quan trọng trách của nhà nước. Thậm chí quan chức muốn tiến thân, buộc phải qua các khóa đào tạo trung, cao cấp chính trị tại những nơi này.

Và cứ thế, đám này sẽ thăng quan, tiến chức với phương châm của đảng là “Hồng hơn chuyên” để quản lý xã hội.

GS Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện KHGD, Bộ GD&ĐT, nói rằng: “Học sinh học như thế thì thiếu cái này thừa cái kia, thực tế là học sinh thiếu kỹ năng sống, kiến thức chỉ thiên về lý thuyết”.

Vì thế, ngoài nhận thức được nhồi sọ trong các lò này, mọi cử chỉ, hành động và lời nói của đám này muốn được yên ổn, hanh thông, thì cứ phải bám riết vào những câu nói ngây ngô, ngớ ngẩn từ đó mà sinh ra. Chẳng hạn mới đây, Vũ Đức Đam, Phó TT Chính phủ vừa yêu cầu soạn từ điển Bách khoa toàn thư phải đúng quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh đó thôi.

Bởi nếu không nói thế, thì không có con đường nào khác để tiến thân, để có quyền lực, để kiếm chác, dù có thể vẫn biết đó là những câu nói ngớ ngẩn và nhiều khi bệnh hoạn, dù vẫn biết có thể nói những câu nói khác đúng hơn. Nhưng, cả guồng máy thể chế đã nặn nên những bộ óc và cái lưỡi như vậy không thể làm khác.

Do đó, một Phạm Vũ Luận, nếu là trường hợp độc đắc mà từ chức đi nữa, sẽ có một Phạm Vú Lẫn khác lên làm bộ trưởng, vẫn cứ tiếp tục những lời ngáo đá và hành động ngu xuẩn khác mà thôi.

GS Phạm Minh Hạc, nguyên là Bộ trưởng Giáo dục đã nói rằng: “xã hội nào thì giáo dục ấy và ngược lại giáo dục nào thì xã hội đó”. Điều này thể hiện rất rõ ở hệ thống giáo dục và hệ thống chính trị hiện nay.

Chỉ có thể thay đổi một nền giáo dục, loại bỏ những quan chức ngáo đá đó khi thể chế Cộng sản độc tài không còn tồn tại.

Hà Nội, ngày 24/8/2015

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Những ngày qua, trên các diễn đàn thông tin mạng Internet sôi sục một làn sóng chê trách, thắc mắc và kêu ca ngành giáo dục, nhất là ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Vũ Luận. Thậm chí một trang mạng yêu cầu ông Bộ trưởng này từ chức đã được khởi xướng. Mấy chục năm nay, có lẽ bây giờ người dân mới có cơ hội để biểu thị thái độ của mình về nền giáo dục Việt Nam cũng như quan chức của hệ thống hiện nay một cách mạnh mẽ như vậy.

Cải cách giáo dục – cuộc thí nghiệm không dứt

Có lẽ kỳ thi tuyển sinh Tốt nghiệp PTTH và tuyển sinh vào Đại học năm nay là kỳ thi lạ nhất sau 45 năm, kể từ khi các kỳ thi tuyển sinh vào Đại học được mở lại ở miền Bắc Việt Nam và sau đó là cả nước. Kỳ thi này nằm trong công cuộc “Cải cách giáo dục” mới.

Mà cái gọi là “cải cách giáo dục” ở Việt Nam xưa nay vẫn tiến hành triền miên và liên tục. Thế nhưng, sau mỗi đợt cải cách nền giáo dục lại được kéo lùi thêm một đoạn. Cải cách xong lại quay đầu trở lại. Điển hình là từ những ngày đầu tiên cải cách chữ viết, nền giáo dục đã đào tạo được một số thế hệ viết chữ, từ chữ gốc Latinh, chuyển sang kiểu “chữ viết tượng hình”. Thế rồi vài ba thế hệ qua đi, thì lại trở lại vị trí ban đầu. Kế theo đó là phát âm, là chương trình… đủ cả.

Chương trình của học sinh thì ngày càng nặng, học đủ thứ. Cái cặp sách của học sinh lớp 1 mang gù cả lưng vẫn chưa đủ cho việc đảm bảo chương trình “cải cách”. Báo chí nói nhiều, kêu lắm thì cũng như nước đổ lá môn.

Thi cử hàng năm là một ngày hội, học sinh đỗ tốt nghiệp với tỷ lệ gần như tuyệt đối. Thậm chí, nhiều người còn kêu lên là nếu tỷ lệ đỗ tốt nghiệp cao như vậy, thì thi cử làm gì cho tốn kém.

Thế nhưng, trình độ của học sinh, sinh viên ra trường, phục vụ xã hội thì quả là… ngao ngán. Hiện tượng sinh viên ra trường không viết nổi cái đơn xin việc là chuyện bình thường. (Tôi đã từng chứng kiến một Kỹ sư xây dựng ra trường, đi làm đến 7 năm mà khi phải tính chu vi một vòng tròn, thì lấy đường kính nhân 2. Bởi vì theo cô lý luận, thì giỏi lắm nó dài gấp đôi đường kính, hỏi thì không biết số Pi là gì – Đây là chuyện có thật chứ không hề bịa).

Từ khi một đất nước có mấy chục trường Đại học, giờ cả nước đã có gần nửa ngàn trường, đủ các thể loại, đủ các địa phương… Nhưng rồi khi cần một điều gì đó cho quốc kế dân sinh hoặc đụng chạm đến vai trò của đảng như trưng cầu dân ý, thì đảng vẫn luôn cho là “dân trí còn thấp”.

Chắc rằng chờ đến khi Việt Nam đủ mỗi xã một trường Đại học thì dân trí  sẽ cao hơn chăng?

Nếu nói đến vấn nạn giáo dục ở Việt Nam, thì ngồi cả ngày không hết chuyện. Phải chăng, điều đó đã phần nào thể hiện cái điều mà Hồ Chí Minh đã tự hào 70 năm trước, rằng: “Từ đây, các em được hưởng một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” (Hồ Chí Minh – Thư ngày khai trường 2/9/1945).

Thế nhưng, 40 năm sau, kể từ khi Hồ Chí Minh tự hào về một “nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam” đó, theo Giáo sư Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Giáo dục thì “từ 1945-1985 nước ta vẫn chưa hoàn thành công cuộc xóa mù chữ. Và một nền tảng của ngôi nhà giáo dục chúng ta chưa có”.

GS Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện KHGD, Bộ GD&ĐT, nói:“Tôi cũng đồng ý với một số người rằng, nền giáo dục của chúng ta chưa vượt khỏi phạm vi ứng thí. Người học chỉ có mục đích vượt qua các kỳ thi, nhất là thi tuyển vào 10, thi đại học. Nếu không cải cách về thi cử thì tất cả mọi cải cách khác đều vô nghĩa”

Nhưng, những cuộc cải cách giáo dục ở Việt Nam liên miên từ năm nọ đến tháng kia, dẫn đến một kết quả là những thất bại liên tiếp. Nhiều người đã ví von rằng những sáng kiến của công cuộc “cải cách giáo dục” ở Việt Nam không khác gì mấy việc sáng kiến của Ngân hàng nhà nước cho ra tờ bạc 30 đồng.

Có thể nói rằng, sau “Cải cách ruộng đất” làm thay đổi tận gốc nền văn hóa Việt, tạo thói quen cướp bóc có tổ chức trong xã hội, thì việc đưa nhiều thế hệ Việt Nam vào cuộc “Cải cách giáo dục” triền miên, liên tục đã dẫn cả đất nước vào trình trạng “dân trí thấp” như ngày nay ở vào thế kỷ 21.

Một kỳ thi tuyển khác lạ và nhiều ý kiến ở Việt Nam

Kỳ thi Tốt nghiệp PTTH kết hợp xét tuyển vào Đại học là một kỳ thi theo phương thức mới.

Trước hết, bỏ qua những phát sinh “không lường trước được” qua những ngày xét tuyển đại học đợt 1 vừa qua, thì công tâm mà nói đây là một kỳ thi theo chiều hướng tiến bộ hơn. Những việc làm của Bộ giáo dục trong kỳ thi vừa qua là đáng khích lệ khi kết hợp hai kỳ thi làm một và lấy kết quả xét tuyển vào các trường Đại học. Việc đó đã đơn giản hơn cho hàng chục ngàn thí sinh không có khả năng, nguyện vọng thi Đại học. Trước đây, đã thi tốt nghiệp xong là dù không có khả năng vẫn đăng ký thi đại học đã trở thành tâm lý chung. Thời ông Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển tỉ lệ tốt nghiệp THPT là 92,64%, số thí sinh thi đại học, cao đẳng đạt 15 điểm trở lên chỉ có 13,7%.

Tiếp theo là sự đơn giản hóa dần các thủ tục trong kỳ thi. Việc công bố điểm thi mặc dù bị phản ứng nhiều trên báo chí ngay trước kỳ thi vì không để cho các báo chí, công ty khác kinh doanh trên điểm thi của sinh viên mà Bộ đã tập trung thông báo tại website của Bộ. Điều này loại trừ được hàng chục tỉ đồng tiền của thí sinh và phụ huynh học sinh khi dùng dịch vụ nhắn tin xem điểm.

Việc các thí sinh và phụ huynh bị khốn đốn, ùn tắc khi nộp, rút hồ sơ trong đợt một vừa qua, là một sự lúng túng như Bộ đã từng lúng túng ngay từ đầu khi áp dụng kỳ thi này. Tuy nhiên với trình độ tin học ngày nay, chỉ cần một phần mềm (Software) cho các thí sinh nộp và rút hồ sơ trực tuyến là có thể đảm bảo đơn giản hóa đi rất nhiều việc xét tuyển trực tiếp “đút vào rút ra” như những ngày qua.

Tuy nhiên đã bộc lộ những vấn nạn khó có thể giải quyết cho nền giáo dục Việt Nam.

Ở một số nước, việc áp dụng hai kỳ thi làm một này đã diễn ra nhiều năm, vẫn trơn tru và tốt đẹp mà không đến mức như ở Việt Nam.

Bởi có những đặc thù Việt Nam, mà có mười ông Bộ trưởng có tài thánh cũng không thể nào giải quyết được.

Còn nhớ, ông cựu Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã phát động cuộc cải cách “Hai không” rồi “Bốn không” cho ngành giáo dục, trong đó việc “Nói không với bệnh thành tích” để rồi năm đó tỷ lệ học sinh tốt nghiệp thật thảm hại. Và để giải quyết vấn đề làm gì với đám học sinh trượt tốt nghiệp trở thành đa số tồn tại trong xã hội? Ông lại phải cho những thí sinh rớt thi lại. Để rồi kết quả tổng cộng lại là con số gần như tuyệt đối và cải tiến biến thành cải lùi.

(Còn nữa)

Hà Nội, ngày 23/8/2015

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 22/08/2015

Lời kêu gọi khẩn cấp: Tư vấn cho Kim Dâng Un

(Truyện vui cuối tuần)

Hỡi tất cả các đảng viên Cộng sản

Nhận thấy rằng:

Ngay từ khi đi học, tôi và các bạn – chúng ta đã được hệ thống giáo dục của “Đảng ta” giáo dục rằng: Trong thế giới ngày nay, tinh thần Quốc tế Cộng sản là hết sức cao cả. Tinh thần đó phải được coi là lớn lao nhất, quan trọng nhất của những người con yêu nước – tức là yêu Chủ nghĩa xã hội. Với tinh thần đó, dù phải hy sinh lợi ích của quốc gia, của dân tộc, thì cũng phải hy sinh cho tinh thần quốc tế vô sản cao cả.


Trong suốt thời kỳ cầm quyền, lãnh đạo dân tộc những năm qua, “Đảng ta” đã thực hiện một cách xuất sắc đầy vinh quang. Về vai trò, “Đảng ta” đã tự nhận trách nhiệm cho mình là “Tiền đồn của phe XHCN” của toàn thế giới. Về mặt tuyên truyền, “Đảng ta” đã cho nhân dân ta biết rằng: Đó là sứ mạng cao cả mà lịch sử đã “chọn chúng ta làm điểm tựa” – Tố Hữu.

Về vị trí, “Đảng ta” đã không ngần ngại tự xưng Việt Nam là một tên lính gác cho Hòa bình thế giới. Chủ tịch nướcNguyễn Minh Triết đã từng nói: “Có người ví von, Việt Nam Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ“. (Phát biểu trong chuyến thăm Cuba năm 2009). Vì vậy, hiện nay Cuba hình như đang ngủ hẳn, thì Việt Nam chúng ta lại một lần nữa được “lịch sử giao phó” nhiệm vụ gác cả ngày cả đêm, không thể rời bỏ vị trí.

Chẳng hạn trước đây, khi bạn vàng Saddam Husein bị nguy ngập trước sự nổi dậy của người dân và cuộc tấn công của đồng minh, trên mạng đã xôn xao tin Phó Chủ tịch nước ta Nguyễn Thị Bình đã khẩn cấp sang thăm Iraq có thể là để tư vấn về vấn đề chiến tranh du kích. Tuy nhiên, việc sang đó hơi chậm nên Saddam Husein đã bị người dân lật đổ và dẫm giày lên mặt. Cuối cùng đã phải chịu án treo cổ. Lần này, càng cần rút kinh nghiệm làm sớm hơn.

Trước tình hình bán đảo Triều Tiên căng thằng, phía Triều Tiên đã chuẩn bị tinh thần giải phóng Miền Nam. Việc giải phóng miền Nam Triều Tiên là nhiệm vụ to lớn của người Cộng sản Triều Tiên. Nhằm thể hiện tinh thần yêu thương đối với người dân Miền Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) đang sống trong tủi nhục của nạn ngoại xâm, mất nước và chính phủ bù nhìn…

Tuy nhiên, trên mạng ít tìm thấy thông tin của phía Bắc Triều. Vì thế, các bạn đảng viên Cộng sản, các đoàn viên là cánh tay đắc lực của Đảng, cần có những đề xuất và ý kiến với đảng ta và đảng bạn. Hồ Chí Minh đã chẳng để lại di chúc rằng: “Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình” đấy thôi?

Nếu là cố vấn cho Kim Dâng Un bạn sẽlàm gì?

Riêng tôi, dù không là đảng viên Cộng sản, nhưng nếu là cố vấn cho Un, tôi sẽ tư vấn những việc sau:

Về quân sự, vũ khí:

– Lập lại (nếu chưa có) hệ thổng “Ủy” trong quân đội, để đảm bảo quân đội chỉ trung thành với đảng cộng sản, nhân dân là cái đinh, chết thì nó đẻ. Tuyên truyền rõ trong nhân dân rằng: “Quân đội trước hết phải trung thành với đảng. Bởi đảng đẻ ra quân đội trước khi có đất nước này”. Nếu trường hợp nào không thông, không tiêu diệt được để bịt mồm, thì mời chuyên gia ở Báo Quân đội Nhân dân của ta sang giải thích.

– Tiêu chí là: Thắng lợi là quan trọng. Khẩu hiệu là “Dù phải đốt cháy cả Dãy núi Taebaek (Thái Bạch sơn mạch – là một dãy núi kéo dài trên cả hai miền nam và bắc bán đảo Triều Tiên. Đây là dãy núi chính của bán đảo Triều Tiên) thì cũng phải giành cho được độc lập”.
(Lưu ý: Cấm tuyệt đối không cho thằng nào hỏi lại hoặc không trả lời câu hỏi: Đốt hết thì giành độc lập để làm gì?)

– Chuẩn bị đầy đủ cung nỏ, loại có thể bắn và tiêu diệt máy bay như Việt Nam đã từng có. Loại này nếu không có, thì sang mua của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Tăng cường huấn luyện nữ dân quân, cụ già, thiếu nhi dùng súng trường CKC bắn phát một để bắn rơi máy bay F105 của Mỹ khi chiến đấu. Cách huấn luyện có thể học tập ở Quân đội Nhân dân Việt Nam.

– Quân đội nhân dân Việt Nam cần cử ngay các anh hùng, dũng sĩ đã từng dùng súng trường CKC phát một bắn rơi máy bay địch như anh hùng Đinh Cà Méo ở Quảng Bình,Đinh Thị Hồng Thương ở Hà Tĩnh, các đội dân quân nữ… sang để giúp bạn. Loại này dù ta rất nhiều nhưng vẫn phải cử đi gấp không thì chết hết lại không có người mà huấn luyện.

– Tổ chức nhiều Công ty Quân đội làm kinh tế, thả cửa cho đám sỹ quan tham gia và kiếm tiền. Chúng nó có nhiều tiền thì mới cố giữ quân đội. Đặc biệt, trong các Công ty đó, duy trì chế độ cha truyền, con nối một cách quyết liệt, kệ cha thiên hạ thối mồm.

– Đặc biệt, cần quan tâm là Quân đội phải tham gia chống Diễn biến hòa bình trong nhân dân, đối tượng chính là nhân dân. Nhất là khi có mâu thuẫn giữa nhân dân và các nước anh em trong Phe XHCN.

– Công an có thể làm bất cứ việc gì mà không cần tuân theo luật pháp. Những đứa dân khó trị đưa vào đồn Công an cho tự tử.

– Công an cần nêu cao khẩu hiệu: “Còn đảng, Còn mình” khắp mọi nơi để củng cố tinh thần bảo vệ đảng cho họ.

– Lập ngay các đội quân khủng bố, giết người, ném lựu đạn không ghê tay mang tên “Đội tự vệ thiếu nhi” hoặc “Biệt động quân”… gửi sang Nam Hàn hoặc tổ chức tại chỗ để chiến đấu trong lòng địch hiệu quả nhất.

Về Chính trị:

– Liên tục kêu gào: Chúng tôi giải phóng miền Nam, nguyện làm tiền đồn cho phe XHCN. Có vậy mới được sự ủng hộ, giúp đỡ của các anh bạn vàng Cộng sản.

– Nhượng bớt (hoặc để chiếm không ý kiến) một số phần lãnh thổ, hải đảo và biên giới. Điều này dễ làm trong điều kiện chiến tranh không ai chú ý. Nhằm để các nước anh em, bạn vàng ủng hộ chắc chắn rằng đảng sẽ tồn tại vĩnh viễn.

– Lập ngay Ban Tuyên Huấn ở mọi cấp (Hoặc cũng có thể là Ban Tư tưởng và Văn Hóa) để hướng dẫn nhân dân được tin ai, tin cái gì… chỉ do đảng nói. Tăng cường việc cho các quan chứ nói văng mạng không cần sự thật, không cần sợ dư luận, không cần việc chịu trách nhiệm… những điều đó đã có đảng lo.

– Bắt giam, không cần xét xử hoặc xét xử lấy lệ những kẻ nào dám yêu Tổ quốc mà không yêu CNXH, dám đòi dân chủ, nhân quyền, dám phản đối đảng bán nước… không khoan nhượng.

– Làm hàng loạt khẩu hiệu nội dung như: Đảng CS Triều Tiên muôn năm, Đảng CS Triều tiên là người tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của dân tộc. Vì miền Nam ruột thịt, vì CNXH, mỗi người làm việc bằng hai, bằng ba”… dán khắp mọi nơi.

– Thu hồi tất cả mọi phương tiện nghe nhìn mà không được kiểm soát. Cấp giấy đăng ký các loại phương tiện đó, với điều lệnh: Cấm nghe đài địch.

– Tăng cường về sự lãnh đạo tài tình của đảng, như đã biết trước vấn đề này, vấn đề kia… Nhưng sở dĩ thất bại là tạm thời vì đảng chủ trương như thế…

– Tăng cường tuyên truyền về cha già dân tộc là thánh sống, là niềm tin yêu tất thắng, là đẹp nhất, là hi sinh nhất, là đạo đức nhất (Nếu có thể thì giấu vợ con đi và tuyên truyền người đã hi sinh đời tư cho Tổ Quốc – Khi cần thiết, có thể hy sinh đám thân nhân của người đi). Khẩu hiệu là “Toàn đảng, toàn quân, toàn dân một ý chí, học tập và làm theo đạo đức tư tưởng Kim Dâng Ủn”, kể cả bệnh viện Tâm thần.

– Thời gian qua, hệ thống tuyên truyền đã dựng lên nhiều hình ảnh đẹp về lãnh tụ, về Cha già dân tộc như: “Khi mới ba tuổi, đại tướng Kim Jong-un đã biết bắn súng. Năm chín tuổi, đại tướng Kim đã có thể bắn trúng mục tiêu di động. Cũng từ năm ba tuổi, đại tướng Kim đã học lái xe. Năm chưa tròn tám tuổi, đại tướng Kim lái chiếc xe tải chở hàng cỡ lớn, vượt qua đoạn đường khúc khuỷu với vận tốc bình quân 120 km/h và tới đích an toàn”. Tuy nhiên đó là những câu chuyện dùng để truyền miệng là chính. Cần có một số tác phẩm do chính người viết ra để ca ngợi mình.

Trong trường hợp cần thiết, kính đề nghị Cha già dân tộc Kim Dâng Un tự viết truyện kể về đời hoạt động của mình để nhân dân đọc mà truyền tụng. (Lưu ý: Có thể để Người lấy tên khác cho đỡ lộ hàng và bỉ mặt).

– Sáng tác ngay các bài hát cho Thiếu nhi, Thiếu niên, thanh niên, phụ nữ, phụ lão… cho đủ mọi giới ca ngợi “Bác Ủn” – cha già dân tộc. Chẳng hạn: “Đêm qua em mơ gặp Bác Ùn, dáng bác lùn, tóc bác dựng cao, em âu yếm hôn đôi môi bác…”

– Tăng cường tuyên truyền về nỗi thống khổ của nhân dân miền Nam ruột thịt đang bị bọn Mỹ xâm lược và bọn tay sai bán nước chà đạp và kìm kẹp. Người dân Miền nam đang ngày đêm rên xiết dưới gót giày xâm lược và lưỡi lê của bọn tay sai.

– Sáng tác nhiều tác phẩm về kẻ thù của dân tộc như ăn gan người sống, uống máu trẻ em, giết con trẻ, đầu độc tù nhân, giết cả làng bằng bom đạn… Nếu không có hình ảnh, có thể dùng hình ảnh của những cuộc cưỡng chế bên Việt Nam làm thí dụ.

– Sang Việt Nam, mua ngay Tuyển tập Tố Hữu, về khẩn trương thay tên nhân vật chính thành Kim Dâng Un, mọi nội dung khác có thể để nguyên. Sau đó tổ chức cho các nhà văn, giáo viên, nhà thơ… bình giảnh về nội dung như: “Miền Nam ơi, thuốc độc giấu trong cơm”… hoặc sáng tác các bài hát: “Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước, diện Đế Quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước”.

– Đặc biệt, cần phải có ngay những hình mẫu thiếu niên, thiếu nhi anh hùng như Lê Văn Tám ở Việt Nam trong thời chống Pháp, Nguyễn Bá Ngọc trong thời chống Mỹ… để trẻ em noi theo. Tăng cường những bài thơ như: “Ngu xuẩn nhất nhì, là tổng thống Mỹ” – Trần Đăng Khoa – để các em học sinh dễ nhớ, dễ thuộc.

– Trong trường hợp không có hình ảnh Lê Văn Tám, có thể dùng hình ảnh dân Việt Nam bị cướp đất tự thiêu những ngày qua đầy rẫy trên mạng.

Về Kinh tế:

– Thực hiện tập thể hóa toàn bộ nền kinh tế có chủ đạo của nhà nước. Cấp tem phiếu cho từng người dân, quản lý chặt chẽ bằng hộ khẩu. Nhằm giúp cho nhà nước biết nhanh nhất đứa nào có ý định phản loạn, sống ngoài nhà nước, hoặc có ý đồ phản loạn thì cắt ngay lương thực, thực phẩm, tem phiếu thương nghiệp… cho nó đói rã họng phải theo đảng đến cùng.

– Tuyên bố với thế giới: Tiến thẳng lên CNXH không qua tư bản chủ nghĩa. Quyết tâm đi tắt đón đầu, nhảy vọt, hiện đại hóa… Nghĩa là người dân càng nghe càng khoái nhằm thúc đẩy họ tiến lên theo đảng. Trong trường hợp cần thiết, có thể tuyên bố nền kinh tế là “Thị trường định hướng XHCN”. Tuy nhiên, khi đi gặp các nước tư bản, thì nên xin bằng được họ công nhận là Kinh tế thị trường mà không cần cái đuôi thổ tả kia.

– Bán tài nguyên thiên nhiên, tăng cường sự hiện diện của người dân, binh lính và các cơ quan từ các nước anh em xã hội chủ nghĩa để tăng cường đoàn kết và xin viện trợ.

– Thậm chí, khi cần bán bớt một số đảo, quần đảo của Miền Nam đang giữ cho bạn vàng, nhằm giữ bằng được viện trợ vũ khí, ca la thầu, lương thực… để lấy tiền giải phóng miền Nam. Để thực hiện điều này, cần nói với nhân dân là “Bạn giữ cũng như ta giữ”.

– Tăng cường các loại thuế, phí không cần ý kiến khả năng của người dân. Bất cứ người dân nào kêu ca, xếp ngay vào thế lực thù địch.

– Tăng cường các “quả đấm thép” – Tập đoàn kinh tế của nhà nước để khi làm ăn thất bại thì đấm vào mặt nhân dân.

Về Ngoại giao:

– Kiên quyết không đội trời chung với Đế Quốc Mỹ, chỉ có thể đội trời chung với kẻ thù truyền kiếp. Tiến tới lập đường dây nóng và mối quan hệ sắt son “4 tốt, 16 chữ vàng” với bạn của đảng, dù là kẻ thù của nhân dân, dân tộc.

– Tăng cường sự lãnh đạo của đảng trong đường lối ngoại giao, quyết tâm làm bạn với tất cả các nước, tuy nhiên, chỉ làm bạn thật với Bạn vàng mà thôi.

–  Kiên quyết không động binh, không làm mất lòng người bạn lớn XHCN Trung Hoa trong mọi trường hợp, kể cả có nguy cơ xâm lược và bị xâm lược. Cần xác định rằng, nếu bạn lớn không ủng hộ, thì đảng không có đất mà chôn.

Về giáo dục:

– Khẩn trương hoàn thiện “một nền giáo dục hoàn toàn Bắc Triều Tiên” cho các sinh viên, học sinh từ đại học đến nhà trẻ học tập Chủ nghĩa Mác – Lenin và đạo đức Tư tưởng Kim Dâng Un là quan trọng, các vấn đề khác như kỹ thuật, công nghệ, tài năng không quan trọng. Bởi không thấm nhuần được các thứ đó thì “có tài cũng vô dụng”. Bộ môn này được thực hiện bất cứ đâu, kể cả cá trường Tôn giáo.

– Đưa ngay vào chương trình giáo dục những câu chuyện dù là truyền thuyết, dù là tự kể, hoặc đặt ra… nhưng phải có tính đảng, nghĩa là phải chứa đựng bạo lực càng nhiều càng tốt. Chẳng hạn: “Bạn An giết được 10 tên địch, bạn Bình giết được hơn 6 tên, hỏi cả hai bạn giết được bao nhiêu tên?”. Hoặc những câu chuyện cỡ như Tấm hiền dịu, xinh đẹp nhưng vẫn giết Cám làm mắm cho mụ dì ghẻ ăn… những tác phẩm đó có tác dụng mãnh liệt tạo nên một xã hội chém giết mà không cần suy nghĩ và run tay. Kinh nghiệm về điều này đã có ở Việt Nam, khi thanh niên va chạm  xe máy là cầm dao cắt cổ luôn, hoặc thảm sát xảy ra thường xuyên  thời gian gần đây.

– Tăng cường “Cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng ở miền Bắc” một cách sâu rộng nhất, xác định rõ mục tiêu là tiêu diệt tôn giáo bằng mọi cách từ thô sơ như phá chùa, phá đền, cướp nhà thờ… đến tinh vi như lập ra và hỗ trợ một số tôn giáo quốc doanh để quần chúng nhân dân ngu xuẩn cứ vậy đi theo.

– Tăng cường sự lãnh đạo của đảng khắp mọi nơi mọi chỗ, kể cả trong quan hệ nam nữ, trong vấn đề kế hoạch hóa gia đình… Đưa ngay một Đại tướng nổi tiếng sang phụ trách vấn đề này cho có uy lực.

– Cấm tuyệt đối việc tụ tập trái phép. Nhưng tăng cường kích động dân Mỹ và miền Nam, nhất là sinh viên đòi quyền tự do biểu tình, tự do tôn giáo, tự do bầu cử. Mục đích là ở các nước đó, họ biểu tình càng nhiều càng tốt.

– Tại miền Nam và các nơi khác ngoài Bắc Triều tiên, tăng cường đòi hỏi tự do tôn giáo. Thậm chí nếu cần, đưa vài sư sãi xuống đường, đổ xăng đốt rồi đưa hình ảnh tự thiêu lên diễn đàn tố cáo. Tăng cường các bài thơ kiểu “Emily con ơi” của Tố Hữu bên Việt Nam với những câu thơ nhức nhối như sau mới có thể kích động được người dân:

Giôn-xơn
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ Vàng trên mặt đất
Mày không thể mượn nước sơn
Của Thiên chúa, và màu vàng của Phật
Măc Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc…

– Liên tục cải cách, cải tiến, cải tổ ngành giáo dục, kiên quyết thực hiện bằng được nền “giáo dục hoàn toàn Bắc Triều Tiên”.

Thưa các bạn đảng viên cộng sản

Còn nhiều mặt, nhiều vấn đề cần tư vấn cho Kim Dâng Un, nhưng trong một bài viết ngắn, không thể liệt kê hết. Nhất là trong tư cách một cá nhân, không thể lĩnh hội hết bài học từ đảng quang vinh của chúng ta. Vì thế tôi kêu gọi các bạn hãy lên tiếng để ủng hộ Kim Dâng Un trong “Sứ mạnh chính trị to lớn mà lịch sử đã giao phó” là: Tiến hành Giải phóng miền nam, Thống nhất tổ quốc, đưa đất nước “tiến nhanh, tiến mạnh tiếng vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội” như ở Việt Nam ta.

Nếu các bạn không làm kịp điều đó, tôi tin rằng một ngày không xa, trên Thiên đường XHCN chỉ còn mỗi Việt Nam, không có bạn bè láng giềng thì thật là buồn thảm.

Thậm chí, các bạn sẽ có lỗi trước vong linh của người, đã từng hy sinh để đưa Cộng sản vào đất nước này tác oai tác quái cho các bạn được hưởng chế độ thiên đường.

Hãy nêu cao ý chí và tinh thần của người Cộng sản các bạn nhé.

Tiến lên. Toàn thắng ắt về ta.

Hà Nội, 22/8/2015, Ngày Bắc Hàn tuyên bố Chuẩn bị xong hoạt động quân sự chống Hàn Quốc.

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 18/08/2015

Thăm lại Đông Yên: Thảm cảnh của nhiều thế hệ – Phần VI

Nói đến những điều đã diễn ra ở Đông Yên, một xứ đạo toàn tòng xưa và nay, chúng ta có cơ hội nhận diện những mưu đồ, mánh lưới của nhà cầm quyền đối với một vùng Công giáo. Mà những hành động đó của họ, không mưu lợi bất cứ điều gì cho đất nước, cho dân tộc. Có chăng, chỉ là việc nhanh chóng rước giặc Tàu vào những điểm tử huyệt của đất nước như Vũng Áng một cách nhanh chóng mà thôi.


Đông Yên – mắt xích trong chuỗi hành động tiếp tay cho giặc

Có thể đó cũng là một “quốc sách” hiện nay, khi mà bọn bành trướng đang chiếm biển đảo của Tổ Quốc, đưa giàn khoan vào biển Việt Nam khoan dầu cứ như đi trong sân của chúng thì bộ máy nhà nước CSVN luôn trấn an người dân là “Đã có đảng và nhà nước lo” với những thể hiện hèn mạt và khiếp nhược. Thậm chí đã có một thời, những hành động lời nói phản đối quân xâm lược đều bị nhà nước CSVN trừng trị. Những ai chỉ cần mang dòng chữ Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam cũng có thể bị ngồi tù. Ngay tờ báo Đảng CS còn ghi rõ Trường Sa – Hoàng Sa là của Tàu.  Chỉ vì đó là anh bạn vàng 4 tốt và 16 chữ vàng của riêng đảng Cộng sản mà thôi.

Nhưng có lẽ đỉnh điểm nhất, là Đảng CS đã thể hiện rõ thái độ và vai trò chư hầu hèn mạt của mình qua hành động dùng lá cờ 6 sao để đón Tập Cận Bình khi sang Việt Nam. Điều này lúc đầu làm người ta ngạc nhiên, bởi cờ Trung Cộng chỉ có 1 ngôi sao lớn và 4 ngôi sao nhỏ? Đây có thể là sự nhầm lẫn hay không?

Nhưng hoàn toàn không. Người ta đã tìm ra tiền lệ của nó là trước đó, Pakistan cũng đã dùng lá cờ này để đón Hồ Cẩm Đào khi sang thăm đất nước họ. Pakistan đã giải thích với Trung Quốc là cố ý cho thêm một sao vào đấy! Coi như là Pakistan bày tỏ cảm tình thắm thiết biết ơn về sự ủng hộ của Trung Quốc và Pakistan không ngại nguyện sẽ biến thành như một ngôi sao trong mối quan hệ chu vi quanh với Trung Quốc mang tính vĩnh hằng và đời đời bền vững. Đến mức này, thì mỗi người dân Việt Nam dù vô cảm với dân tộc, xã hội và đất nước đến mấy, nhưng với truyền thống ngàn đời nay không khuất phục ngoại xâm Phương Bắc đều cảm thấy sự ê chề, hổ thẹn và nhục nhã với tiền nhân, với cha ông thuở trước.

Không phải ngẫu nhiên mà một tay Bộ trưởng Quốc phòng được dân bỏ tiền nuôi béo như con trùng trục, sắm sanh biết bao súng đạn lại có thể mở miệng nói rằng: Xu thế ghét Trung Quốc nguy hiểm cho dân tộc. Chắc chỉ khi nào yêu kẻ thù xâm lược như cái đảng của ông ta thì mới là có lợi mà thôi? Ở đây, ông ta đã đánh tráo khái niệm Đảng là Dân tộc.

Cũng không phải ngẫu nhiên, mà khi Tàu Cộng ngang nhiên hoành hành trên biển Đông của Việt Nam với hàng chục ngàn tàu đánh cá, với lệnh cấm đánh bắt cá trên biển đông, hàng loạt ngư dân bị bắn chết, bị đánh đắm thuyền bè, bị cướp… thì Nguyễn Phú Trọng khi đó là Chủ tịch Quốc hội vẫn cho là “Biển Đông không có gì mới” và mới đây, cái gọi là “Quốc Hội” của Việt Nam vẫn ngậm tăm không thể nói một điều, ra một nghị quyết về Biển Đông. Sự sợ hãi, hèn mạt đã đến đỉnh điểm.

Trong bối cảnh đó, việc tiếp tay cho giặc đưa quân vào những nơi hiểm yếu của đất nước là hành động tiếp tay cho quân xâm lược – một hành động bán nước cầu vinh – không thể dùng từ nào khác.

Những điều cần nhắc lại

Để nói đến những hiểm nguy trong Dự án Kinh tế Vũng Áng đối với đất nước, có lẽ cần nhắc lại một đoạn trên tờ báo Đất Việt, ở đó tác giả đã cảnh báo như sau:“Bắc Kinh đã đầu tư giúp Lào xây dựng con đường quốc lộ chạy dọc từ biên giới Trung-Lào (bắc Lào) đến nam Lào, ngang khu vực miền trung Việt Nam – đoạn hẹp nhất của nước ta với chiều ngang chạy từ tây (Lào) sang đông (biển Đông) vẻn vẹn có 50km, đặc biệt có liên quan mật thiết đến đặc khu kinh tế Vũng Áng.

Khu kinh tế Vũng Áng có diện tích 227,81 km2, chạy dọc bờ biển Hà Tĩnh dài 15-17 km, có tổng vốn đầu tư vào loại lớn nhất nước, ước khoảng 20-30 tỷ USD. Thời gian cho Trung Quốc thuê đất quá dài đến 70 năm.

Về phía đông, Vũng Áng nằm đối diện và cách đảo Hải Nam-Trung Quốc vẻn vẹn vài trăm km. Về phía tây, từ cảng Vũng Áng đi qua Lào chỉ có 50km (khu vực có con đường chiến lược do Trung Quốc xây dựng, đồng thời di dân sang ở và phục vụ làm đường). Kết nối con đường này với Vũng Áng, Tam Á là rất nguy hiểm.

Thuê Khu kinh tế Vũng Áng trong 70 năm, Trung Quốc có thể biến nó thành một “Tiểu quốc gia trong quốc gia” khi xây tường bao xung quanh, người Việt không thể vào được, tạo ra một tiền lệ nguy hiểm rằng, ở chỗ nào người Trung Quốc đầu tư, thì người Việt “cấm cửa” không được vào.”

Lẽ nào, với tư duy một nhà báo, người ta còn nhìn được tận tim gan của kẻ thù dân tộc, mà một tổ chức luôn vỗ ngực tự hào là “Trí tuệ của nhân loại, lương tâm của thời đại, khoa học của mọi khoa học” lại không nhìn thấy nguy cơ đó hay sao?

Nếu không nhìn thấy thật, thì điều đó chỉ chứng tỏ khả năng, trình độ chưa đáng tầm một bà bán cá ngoài chợ còn biết lãnh địa bán hàng của mình đến đâu để giữ chỗ, nói chi đến ‘trí tuệ” với cả “tinh hoa dân tộc”?

Nếu nhìn thấy mà vẫn nhắm mắt để làm, thì chỉ có thể nói một điều: Họ đang cố tình đưa đất nước này, dân tộc này dần dần bước vào vòng nô lệ bắc thuộc chỉ vì anh “bạn vàng” của họ cùng nòi cộng sản với nhau.

Và điều này, chứng tỏ cái lý thuyết công sản rằng: “Khi có mâu thuẫn giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của Cộng sản Quốc tế, thì người cộng sản phải hy sinh lợi ích dân tộc mình”- đã đang được họ theo đuổi đến cùng bất chấp đất nước, và dân tộc lâm nguy.

Khi người Tàu đến Kỳ Anh, họ đang coi nơi này như nhà họ. Họ xây sẵn miếu thờ của riêng họ, coi như đất cha ông mình.

Mới đây, nhà thầu đã đề nghị với Thủ tướng Việt Nam đồng ý cho họ lập nên ở đây thành một “Đặc khu” với những điều mà chưa chắc họ đã làm được ở chính Đài Loan hoặc Trung Cộng. Họ đề nghị Formosa được phép cắt đất bán cho khoảng 60 ngàn người bao gồm 15 ngàn nhân viên và thân nhân của họ trong đặc khu.

Phải chăng, đây là câu trả lời cho việc vì sao nhà cầm quyền Việt Nam hăng hái đuổi dân ra khỏi nơi chốn ngàn đời của mình mà không dám nói rõ lý do?

Thảm họa của nhiều thế hệ

Cần phải nói rằng, việc đã và đang xảy ra ở Giáo xứ Đông Yên vừa qua, chỉ là một trong hàng ngàn, hàng vạn các ví dụ khác trên đất nước Việt Nam do “Đảng CSVN tài tình và sáng suốt” độc tài lãnh đạo.

Trên đất nước này, biết bao rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ quốc gia, đất quốc phòng, phòng thủ và những vị trí chiến lược đã “được” cho Trung Cộng thuê dài hạn. Biết bao công trình, dự án, nhà thầu Trung Quốc chiếm hầu hết. Trên biên giới hàng hóa độc hại tuồn vào Việt Nam cả vài chục tỷ đôla mà nhà nước không biết nó đã đi đâu. Xin thưa, nó đã đi vào dạ dày của người dân Việt Nam. 90 triệu người dân ở đây đang trở thành những thùng chứa rác của Tàu Cộng.

Điều đáng nói, là khi vận nước lâm nguy, thì cái gọi là “sáng suốt, tài tình” đã coi như chuyện hiển nhiên nó phải thế vì“Không thay đổi được láng giềng” – Nguyễn Phú Trọng. Cái tai hại của Chủ nghĩa Cộng sản là ở đó.

Trở lại chuyện Đông Yên, chúng tôi không thể nói gì hơn khi nhìn cả khu vực giáo xứ sầm uất đông đúc xưa kia giờ tan hoang thê thảm. Đời sống của họ rồi sẽ ra sao? Tương lai nào cho họ có được cuộc sống như ngày xưa? Những cháu bé tuổi cắp sách đến trường đang bị không được cho học hôm nay, chúng sẽ như thế nào trong tương lai.

Phải chăng, đảng đang chuẩn bị một lớp nô lệ mới cho Tàu trong tương lai, khi mà đất đai không còn, đời sống không có gì để bảo đảm không bị đầu độc bởi hàng Tàu đầy hóa chất độc hại, bởi nền kinh tế “vọng ngoại” bằng con số nợ khổng lồ trong lịch sử đất nước – mỗi người dân từ tháng 4/2015 đã gánh 21.000.000 đồng nợ công trên mình. Nghĩa là đảng đã biến mọi thế hệ Việt Nam hôm nay thành con nợ đầm đìa.

Ngoài ra với đường lối chính trị, kinh tế, y tế,  giáo dục như hiện nay, giống nòi dân Việt sẽ suy kiệt từ thể chất đến tinh thần, trẻ em không được học hành sẽ trở thành một lớp người nô lệ cho ngoại bang.

Viễn cảnh đó sẽ không còn bao xa đối với mỗi người dân Việt.

Hà Nội ngày 18/8/2015

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Trước những đe dọa từ cuộc sống xã hội hàng ngày trong môi trường sống bạo lực và suy đồi ngày càng nặng nề. Tối 26/7/2015 tại nhà thờ Thái Hà, Thánh lễ cầu nguyện cho sự hòa bình đích thực, cho sự an toàn của đời sống xã hội đã được tổ chức. Hàng ngàn giáo dân trong và ngoài Công giáo đã tham dự Thánh lễ đồng tế này.

Các nhân sĩ, trí thức và những người dấn thân đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ đã đến tham dự Thánh lễ hợp ý cầu nguyện cho xã hội và đất nước.

Tham dự thánh lễ còn có góp mặt của các nạn nhân nhà tù cộng sản hoặc thân nhân của họ đã và đang chịu nhữ bản án oan khuất. Chị Cấn Thị Thêu, người vừa mới ra tù được 1 ngày nhiều dân oan, các thân nhân của các tử tù oan cũng có mặt.

Thánh lễ đồng tế do Linh mục Phó bề trên Thái Hà Ngô Văn Kha chủ sự cùng với các linh mục Trịnh Ngọc Hiên, Bề trên Tu viện Thái Hà, Ngô Ngọc Quỳnh, phụ trách Di dân, Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong.

Bài giảng của Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong đã nêu những vấn đề về sự thiếu hòa bình chân thực khi đất nước đã không còn chiến tranh, các liện quan đến Giáo lý và trách nhiệm của mỗi người đối với xã hội hôm nay và tương lai.

Bài giảng: Thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình tháng 7/2015

Hôm nay, như thông lệ, chúng ta trở về ngôi nhà thờ này để cùng cầu nguyện cho Công lý và hòa bình.

Đất nước chúng ta đã thống nhất vừa tròn 40 năm hay nói theo kiểu của truyền thông nhà nước “hòa bình lập lại trên quê hương đất nước chúng ta đã được 40 năm”. Câu hỏi đặt ra là sau 40 năm, chúng ta có được hưởng một nền hòa bình và tự do đích thực không?

Nếu quan sát và không vô cảm tới mức độ không biết gì khác ngoài đời sống cá nhân, thì chúng ta phải trả lời là “không”, vì như Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II, trong Thông điệp “Đấng Cứu độ Con người” đã viết: “Hòa bình đích thực là khi các quyền bất khả xâm phạm của con người được tôn trọng – opus justitiae pax, trong khi chiến tranh lại sinh ra từ sự vi phạm các quyền đó và kéo theo những vi phạm còn trầm trọng hơn nữa. Nếu các quyền con người bị vi phạm trong thời bình thì thành ra đặc biệt đau xót, xét theo quan điểm của tiến bộ, đó là một hiện tượng chống lại con người không sao hiểu nổi” (số 17).

Thể chế chính trị tại Việt Nam hiện nay có tôn trọng các quyền cơ bản của con người hay không? Chúng ta có được tự do thành lập các hội nhóm, các đảng phái chính trị, có được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo…hay không? Mỗi người trong anh chị em chúng ta tự thẩm định và đưa ra câu trả lời cho chính mình.

Trong bối cảnh của thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình hôm nay, chúng ta không thể nói hết được về các khía cạnh khác nhau của một nền hòa bình và tự do đích thực. Chúng tôi chỉ xin đề cập tới một hiện tượng xã hội, cũng là dấu chứng, qua đó cho thấy, chưa hề có nền hòa bình và tự do đích thực trên quê hương đất nước chúng ta, cho dù chiến tranh vũ trang đã lùi xa, hòa bình đã lập lại trên quê hương đã 40 năm. Hiện tượng xã hội mà chúng tôi muốn đề cập chính là nạn bạo lực xã hội mà tất cả chúng ta đang là nạn nhân cách này cách khác.

Thực vậy, theo ý kiến của rất nhiều những nhà nghiên cứu xã hội học hiện nay, thì “Nạn bạo hành trong xã hội đang có chiều hướng phức tạp và khó lường”. Bạo lực xảy ra ở nhiều nơi, xuất phát từ nhiều hướng: từ gia đình với nạn bạo hành gia đình, đến trường học – học sinh đánh nhau, bạo lực bằng ngôn từ hay bạo lực bằng các hành vi trái đạo lý và pháp luật. Điều đáng lo ngại nhất là bạo lực lại là chủ trương của giới cầm quyền, coi đó như phương tiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Chẳng hạn như hiện tượng công an đánh chết dân tại các đồn công an hay bắt giam người trái pháp luật; hiện tượng nhà nước kết hợp với côn đồ, gọi họ là những quần chúng tự phát, sẵn sàng đánh đập những người dân vô tội, dù họ chỉ đòi quyền lợi chính đáng của mình…Điều bi đát là hiện tượng ấy như vượt tầm kiểm soát của xã hội vì nó được cổ võ bởi một thể chế chính trị không bận tâm tới các quyền cơ bản của con người.

Vậy đâu là nguyên nhân khiến xã hội ngày càng bất an, bạo lực trở thành một phương thế “tự vệ” theo nhiều nghĩa, làm cho xã hội ngày càng băng hoại, đe dọa nền hòa bình của quốc gia và quyền được hưởng một cuộc sống an lạc trong một đất nước vắng bóng chiến tranh?

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Hôm nay, chúng tôi chỉ xin đưa ra đây hai nguyên nhân mà chúng tôi nghĩ rằng đó là những nguyên nhân chính yếu khiến xã hội băng hoại, đạo đức xuống cấp, bạo lực lên ngôi.

1. Trước tiên, đó là “tình trạng lỗi hệ thống”. Đây là nhận định của ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam khóa XI. Trong cuộc trả lời phỏng vấn của báo Vietnamnet ngày 7/12/2010, ông cho rằng, những hệ quả tang thương của đất nước hiện nay là do tình trạng lỗi hệ thống từ gốc đến ngọn, trong đó lỗi hệ thống lớn nhất là mô hình xã hội chủ nghĩa, với chủ trương đề cao vật chất, biến con người thành những phương tiện sản xuất. Ông nói: “Lỗi hệ thống rõ ràng nhất, cụ thể nhất, toàn diện và triệt để nhất chủ yếu là từ khi chúng ta chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Cộng hòa Xô Viết – một mô hình rất xa lạ với những mô hình và lý thuyết phổ quát mà mô hình của Cộng hòa Xô Viết thì lại bắt nguồn từ những lý thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Trong thực tế, chúng ta có thể thấy rõ điều này trong xã hội hiện tại của chúng ta. Đó là một xã hội mà hệ thống chính trị theo chủ nghĩa cộng sản tạo nên những bất cập trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Tình trạng lỗi hệ thống phổ biến trong mọi lãnh vực từ kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa cho tới gia đình – là nhân tố cơ bản nhất của xã hội. Trong lãnh vực chính trị, thay vì chọn một nền chính trị xã hội dân chủ, đa đảng, tôn trọng các quyền cơ bản của con người, những người cộng sản đã áp đặt một thứ chủ nghĩa duy vật, coi trọng vật chất, tiền bạc, biến con người thành những cỗ máy, đi ngược lại với những qui luật tự nhiên, khiến người dân trở thành nô lệ trong một quốc gia độc lập. Trong lãnh vực văn hóa, thay vì tôn trọng các quyền cơ bản như quyền sáng tác, phổ biến, in ấn các tác phẩm, dùng văn hóa để thăng tiến con người, chính quyền Việt Nam lại biến nó thành những thứ kiểm soát tư tưởng con người, triệt tiêu khả năng sáng tác các tác phẩm nghệ thuật; đặc biệt, trong lãnh vực văn hóa, thay vì để các tôn giáo tự do phát triển, góp phần giáo dục con người nhân bản, chính quyền lại đưa ra các chính sách nhằm triệt tiêu tôn giáo, biến tôn giáo thành công cụ bảo vệ chế độ. Trong lãnh vực giáo dục, thay vì giáo dục con người nhân bản, hướng thiện, chính quyền lại đưa ra một thứ triết lý giáo dục mà mục tiêu là bảo vệ chế độ; thay vì dạy cho con trẻ lòng yêu nước, thương nòi, thì lại cổ võ cho sự hận thù, cho đấu tranh giai cấp, nguồn gốc của mọi thứ bạo lực hiện nay.

Có thể nói, tất cả những sự xuống cấp về đạo đức, tình trạng bạo lực lên ngôi trong xã hội chúng ta hôm nay là do tình trạng lỗi hệ thống mà chúng ta vừa nói. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa, chính là việc chúng ta xây dựng một mô hình xã hội không quan tâm tới con người, không đặt con người làm trung tâm của xã hội. Công đồng Vatican II, trong Hiến chế Ánh sáng Muôn dân đã viết: “Nhân vị hay con người chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội” (GS 25). Biến con người thành phương tiện sẽ làm cho bạo lực gia tăng, vì “Tình yêu con người là giá trị đầu tiên của trật tự trần thế” (Phao-lô VI, Sứ điệp ngày thế giới hòa bình 14/11/1970) (số 23). Không tôn trọng phẩm giá con người, chắc chắn, bạo lực sẽ gia tăng. Người chồng vì không tôn trọng vợ, không tôn trọng định chế hôn nhân, nên gây ra bạo hành gia đình. Nhà nước vì không tôn trọng dân nên biến công dân thành nô lệ ngay trên mảnh đất quê hương mình.

2. Nguyên nhân thứ hai: đó chính là sự vô cảm của chúng ta. Chúng ta đã im lặng trước tội ác khiến tội ác lan tràn. Chúng ta để mặc cho bạo lực hoành hành mà không can đảm ngăn cản. Điều chính yếu khiến tội ác gia tăng là bởi vì chính chúng ta cũng đã không tôn trọng mọi định chế do luật tự nhiên thiết định, không can đảm đế dấn thân canh tân xã hội bằng việc thay đổi chính mình, nhất là, với chúng ta, những người Ki-tô hữu, chúng ta đã không sống chính những gì mà Chúa Giê-su đã dạy chúng ta. Chúng ta đã không tìm đến với “giải pháp Giê-su” giải pháp duy nhất mang tới sự hòa bình đích thật và viên mãn.

Bài Tin mừng ngày hôm nay cho chúng ta những chỉ dẫn rất lý thú về vấn đề canh tân xã hội, nhất là cho chúng ta thấy đâu là nguyên tắc thiết yếu để xây dựng một xã hội của công lý và tự do.

Có hai chi tiết trong bài Tin mừng hôm nay cần lưu ý. Đó là cuộc đối thoại của Chúa Giê-su với các môn đệ về việc phải “tìm đâu ra bánh để nuôi đám đông dân chúng.” Theo các nhà chú giải, câu hỏi của Chúa Giê-su “phải mất bao nhiêu tiền mới đủ để mua bánh cho đám dân chúng” và câu nói đầy vẻ bi quan của của ông Phi-líp-phê, nhất là việc có cả một đám đông lên đến 5.000 người không kể đàn bà và con trẻ mà chỉ có một “em bé có năm chiếc bánh và hai con cá”; giả thiết đám dân ấy đang là nạn nhân của một hệ thống chính trị, kinh tế bóc lột con người, tạo ra một sự bất công khủng khiếp. Hệ thống chính trị ấy, không phục vụ cho con người. Hệ thống kinh tế, chính trị ấy chỉ nằm trong tay một số người, khiến người dân “bơ vơ như những đàn chiên không người chăn dắt”. Trong bối cảnh đó, Tin Mừng nói: “Chúa Chạnh lòng thương” (Mc 6, 34) và Ngài nói với các Môn đệ: “Anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14,16).

Chi tiết thứ hai chúng ta cần để ý, đó là sau khi Phi-líp-phê đưa ra giải pháp mua bánh, nhưng giải pháp đó không khả thi vì không có đủ tiền; trong lúc mọi người đang bất lực thì ông An-rê phát hiện trong đám đông có một em bé có “5 chiếc bánh và hai con cá”, nhưng giải pháp đó cũng thất bại vì “ngần ấy không đủ cho đám đông dân chúng”, thì Chúa Giê-su đã thực hiện phép lạ hóa bánh ra nhiều. Điều đó cho thấy, có khi trong cuộc sống, con người có đầy đủ mọi phương tiện, nhưng tất cả những phương thế trần gian đều vô vọng, chỉ có một giải pháp duy nhất là giải pháp Giê-su mới giải quyết tận căn mọi vấn đề. Ở đây, còn một chi tiết đáng chú ý là, trước khi làm phép lạ hóa bánh, Chúa Giê-su đã ra lệnh cho các môn đệ: “Bảo dân chúng ngồi xuống”. Trong truyền thống văn hóa Do thái, tư thế ngồi ăn là tư thế của những người tự do, những người có phẩm giá. Do đó, khi kêu gọi các môn đệ ra lệnh cho dân chúng ngồi xuống, Ngài muốn các môn đệ, trong tư cách người phục vụ, phải phục vụ dân chúng trong sự kính trọng phẩm giá và sự tự do con người. Họ phải phục vụ trong tư thế của một đầy tớ, yêu thương kính trọng nhân phẩm của mỗi con người, dù họ là ai.

Như vậy, theo như những gì Lời Chúa nhắc nhở mà chúng ta vừa tìm hiểu, thì không thể có một xã hội công bằng, an toàn, nếu như thiết chế xã hội không tôn trọng phẩm giá con người, không đề cao những giá trị tôn giáo. Cũng vậy, để xã hội ngày càng thịnh vượng, mỗi người dân, cách riêng các Ki-tô hữu phải tích cực góp phần vào việc canh tân xã hội, dấn thân vì công bình, bởi “Phúc cho những ai xây dựng hòa bình, vì Nước trời là của họ” (Mt 5,9). Cũng vậy, trong tư cách là người Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi “đừng vô cảm trước nỗi đau”, trước những bất công của anh chị em mình. Chúng ta phải như Chúa Giê-su “chạnh thương những người bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt”. Chúng ta phải “cho họ ăn” và khi cho họ ăn phải tôn trọng sự tự do và phẩm giá của họ.

Có thể nói, sự vô cảm hay thái độ dửng dưng của người dân, cách riêng của người công giáo, đang đẩy xã hội mỗi ngày một bất ổn hơn. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, trong Tông huấn Niền vui của Phúc âm, cho thấy, sống trong một xã hội mà các chính sách xã hội luôn nhắm tước đoạt các quyền sống của con người, thì vô tình, “Chúng ta trở nên vô cảm trước tiếng kêu của người nghèo. Chúng ta không còn có thể khóc trước nỗi đau của người khác hay cảm thấy cần cứu giúp họ. Chúng ta coi như tất cả đều là trách nhiệm của một ai khác chứ không phải của chính chúng ta. Văn hoá của sự thịnh vượng làm chúng ta mất đi sự mẫn cảm; chúng ta phấn khích nếu thị trường cung cấp cho chúng ta một món hàng mới; trong khi tất cả những mảnh đời cằn cỗi vì thiếu cơ hội có vẻ chỉ là một cảnh tượng bình thường, không hề làm chúng ta mủi lòng” (số 54).

Hôm nay, ngày cầu nguyện cho công lý và hòa bình. Trước hiện tượng bạo lực ngày càng gia tăng trong xã hội, do tình trạng “lỗi hệ thống từ gốc tới ngọn”; trước hiện tượng vô cảm đang bào mòn nhân cách của con người, khiến con người dửng dưng trước nỗi đau của đồng loại, chúng ta, các Ki-tô hữu hôm nay, được mời gọi “hãy cho họ ăn” như Chúa Giê-su đã “chạnh thương đám đông bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt”. Chúng ta không được vô cảm, nhưng phải nhìn thấy nỗi đau của anh chị em như nỗi đau trên thân thể mình, bởi vì: “Bổn phận của mọi người – và nhất là của người Kitô hữu  – là phải hành động mạnh mẽ để kiến tạo một tình huynh đệ phổ quát, là nền tảng thiết yếu cho một nền công bình đích thực và là điều kiện cho một nền hòa bình lâu dài: “Chúng ta không thể kêu cầu Thiên Chúa là cha mọi người, nếu chúng ta từ chối xử sự như anh em đối với một số người cũng được tạo dựng giống hình ảnh Chúa. Quan hệ giữa con người với Thiên Chúa là Cha và giữa con người với anh em mình có liên quan mật thiết với nhau như lời Thánh Kinh: “Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa”  (1Ga 4,8).” (Phaolo VI, Tông thư Bát Thập niên, số 17).

Cũng vậy, nếu chúng ta không cùng nhau bắt tay xây dựng lại xã hội, ngăn chặn bạo lực thì không sớm thì muộn chúng ta cũng sẽ là nạn nhân của bạo lực. Con cái chúng ta sẽ thừa hưởng điều gì từ một xã hội như vậy? Thiết nghĩ, đã tới lúc mỗi chúng ta cần ý thức hơn vai trò và trách nhiệm của chúng ta trong xã hội Việt nam hiện nay, đó là chung tay xây dựng một xã hội đề cao và tôn trọng phẩm giá của con người, trước tiên nơi ngay gia đình chúng ta, vì “Hòa bình sẽ không thể vãn hồi giữa nhân loại, nếu trước hết nó không vãn hồi trong từng cá nhân, trong các gia đình. Hòa bình đích thực sẽ không thể có, nếu mỗi người tự mình không tuân giữ các trật tự mà Thiên Chúa đã thiết lập, không tôn trọng nhân phẩm người khác” (Gioan XXIII, Hòa bình trên Trái đất, số 12, V).

Thái Hà, 26/7/2015

Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong CSSR.

Một số hình ảnh Thánh lễ thắp nến cầu nguyện hôm nay:

Hà Nội, 27/7/2015

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 12/07/2015

Thăm lại Đông Yên: Thảm cảnh của nhiều thế hệ – Phần V

Không chỉ những người ở lại Đông Yên bị đẩy vào cảnh đường cùng. Con cái không được học hành, người dân bị cô lập giữa đống hoang tàn và tan hoang, mịt mù hiện tại chứ chưa nói đến tương lai. Họ được đối xử như những kẻ lưu đày trên chính mảnh đất họ bao đời khai khẩn và xây dựng, nơi họ được sinh ra, trên chính quê hương của họ

Mà những người ra đi cũng đã và đanh chịu nhiều nỗi đớn đau, thua thiệt khi “mẹo lừa đã mắc vào khuôn”.

Đem người đẩy xuống giếng thơi (K)

Những người dân Đông Yên khi chấp nhận di dời khỏi nơi chôn rau cắt rốn của mình lên vùng Đèo Con để lập cơ nghiệp mới. Đây là vùng đất nằm sát đường quốc lộ hiện nay. Tuy nhiên, từ bao đời nay, cha ông họ đã thừa kinh nghiệm khi chọn nơi để sinh sống và làm ăn, đã chừa những nơi mà giờ đây nhà nước lại đưa họ đến để “Tái định cư” để đất cha ông lại cho nhà cầm quyền bán cho Tàu Cộng.

Những người dân Đông Yên lên nơi mới định cư, đối diện với muôn vàn khó khăn và là những vấn đề không thể tự mình giải quyết. Hơn 1.100 hộ dân đến một khu vực chen chúc nhau nhưng rác thải không có nơi đổ và xử lý, gây sự ô nhiễm nặng nề. Mỏ đá suốt ngày nổ ầm ầm, rung chuyển nhà cửa, khói bụi mù mịt. Nước mỗi ngày bơm 4 tiếng đồng hồ, thời gian còn lại trong ngày muốn dùng thì… nhịn.

Một điều hết sức hài hước, là giá đền bù đất của dân baođời nay khai khẩn, thì bị lấy đi chỉ đền bù 22.100 đồng/m2 đất ruộng, 16.700 đồng/m2 đất trồng cây lâu năm. Thế nhưng, chỉ để được cấp sổ đỏ, số tiền là 300.000 đồng/m2. Mỗi gia đình nếu muốn cấp sổ đỏ, số tiền là 120.000.000 đồng, Nghĩa là số tiền để được cấp sổ đỏ, bằng số tiền đền bù cho 7.185 m2 cây lâu năm bị lấy đi. Những gia đình nào chưa có tiền, được hứa cho… nợ. Nhưng, đó chỉ mới là chuyện hứa, lời hứa của người cộng sản. Những nơi khác được “cho nợ” số tiền này, riêng bà con Đông Yên đã đi định cư, lời hứa này chưa được thực hiện dù đã có đơn từ, xin xỏ nhiều lần.

Rồi chuyện đền bù, người dân Đông Yên đổ mồ hôi sôi nước mắt tạo dựng nơi quê quán của mình những công trình phúc lợi, đều đã được kiểm đếm trước khi ra đi. Nhưng khi đã ra đi đến nơi mới, thì nhà cầm quyền lơ luôn khoản đền bù đất đai và tài sản, công trình của người dân. Thậm chí, đến tiền ruộng đất của dân gửi tại ngân hàng nay bỗng nhiên bị phong tỏa mà không có lý do(!)

Đó là những vấn đề thiết yếu của cuộc sống người dân nơi định cư mới, chưa nói đến những điều cần thiết cho đời sống văn hóa, tinh thần của người dân như sân vận động, nơi vui chơi cho con trẻ, những công trình công cộng phục vụ mấy ngàn con người… cho đến nay vẫn cứ bị lớ lờ lơ coi như không ai chịu trách nhiệm.

Đó là chuyện người đã “chấp hành đúng, đủ chính sách của đảng” để ra đi. Họ đang sống lay lắt trong những ngày chuyển lên nơi mới để Tái định cư. Những gia đình có chút tiền đền bù, bây giờ không nghề nghiệp, không công việc, ngoài việc phải xây dựng cơ ngơi mới, thì miệng ăn núi lở, chẳng mấy chốc sẽ trở thành “giai cấp vô sản” – một lực lượng mà đảng cộng sản luôn cần, luôn muốn nó ngày càng đông đúc. Và hẳn nhiên, sẽ kéo theo tệ nạn xã hội, kéo theo sự suy đồi về đạo đức, đi ngược lại giáo lý và giáo luật… Con đường đó dường như đã được vạch sẵn cho người dân.

Nhìn lại hoàn cảnh người dân Đông Yên nói riêng và người dân Kỳ Anh đi tái định cư để lấy đất cho Tàu hôm nay, người dân xứ Nghệ Tĩnh chợt thấy tình cảnh của nàng Kiều ngày xưa hiển hiện:
Xót nàng chút phận thuyền quyên,
Cành hoa đem bán vào thuyền lái buôn.
Mẹo lừa đã mắc vào khuôn,
Sính nghi rẻ giá nghênh hôn sẵn ngày.

Nói lời rồi lại ăn lời được ngay (K)

Trước hết, những khó khăn gian nan khi bỏ tất cả những gì đã chắt chiu xây dựng từ bao đời nay để đến lập cơ ngơi tại vùng đất mới, họ đã nhận được trước đó biết bao lời hứa hẹn và thái độ nhũn nhặn. Những lời hứa như mật ngọt của những người Cộng sản, tưởng rằng dân ta đã thừa kinh nghiệm sau 2/3 thế kỷ này có kinh nghiệm. Nhưng không phải thế. Những lời hứa, những sự nhũn nhặn của họ vẫn cứ phát huy tác dụng như thường.

Nào là những lời hứa của Chủ tịch Tỉnh hẳn hoi là sẽ hỗ trợ cho những người có giá trị tài sản được đền bù quá thấp để họ ổn định đời sống, nào là xây dựng các hạng mục cơ sở hạ tầng đảm bảo môi trường, môi sinh cho khu tái định cư của người dân được sạch sẽ văn minh, nào là đảm báo các chính sách hỗ trợ ưu tiên…

Thế nhưng, cũng như lời thề hứa vào đảng rằng: “Không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực, công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác” nhưng chẳng mấy chốc, khi nắm quyền trong tay, chính hệ thống các đảng viên đã biến thành “một bầy sâu” – Lời Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước – chuyên đục khoét, tham nhũng hàng đầu.

Rồi nào là “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của

nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân…” nhưng chẳng mấy chốc lời thề này cũng là chuyện “cá trê chui ống”, các đảng viên chăm lo cho cái ghế ngồi để trục lợi cho bản thân và phe đảng của mình mà nhân dân nhiều khi thành “thế lực thù địch”. Do vậy, những lời hứa đối với giáo dân Đông Yên vẫn còn đó và việc thực hiện vẫn là một ẩn số.

Tuy nhiên, việc khai khống đất đai đền bù, việc tham nhũng thì vẫn cứ tiến hành đều đều và nhanh như chớp.

Sau nhiều lần đơn từ, công văn, thư kiến nghị gửi đi nhưng không thấy hồi âm. Mới đây, linh mục Quản xứ Đông Yên đã gửi đơn đến Chủ tịch UBND Tỉnh, Đức Giám mục Giáo phận Vinh để nói lên những điều bội ước, thất hứa và những vấn nạn của Đông Yên hôm nay. Văn thư do Hội đồng mục vụ, cán bộ thôn và linh mục quản xứ đồng ký tên đã nêu rõ: “Vì vâng lời Đức Cha và tin vào những lời hứa của ông Chủ tịch Tỉnh đã hứa về việc quy hoạch cơ sở hạ tầng cho vùng tái định cư Đông Yên như điện, đường, trường, trạm và các công trình phúc lợi khác cũng như đời sống an sinh xã hội cho bà con Đông Yên. Nhưng cho đến nay các hạng mục trên chưa được đáp ứng gây bức xúc cho bà con Đông Yên”.

Văn thư cũng đã liệt kê 12 khoản mục mà nhà nước đã hứa long trọng, nhưng cũng long trọng thất hứa ngang nhiên, mặc dù đã có nhiều đơn từ, nhưng không được hồi đáp. Có lẽ đó cũng là đáp số của những lời hứa Cộng sản như thể: Là người đầy tớ trung thành tận tụy, Vì hạnh phúc của nhân dân… mà chúng ta vẫn nghe ra rả mỗi ngày?

Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh (K)

Trên phương diện lý thuyết và qua hệ thống tuyên truyền cộng sản, thì đây là một nhà nước “của dân, do dân, vì dân”. Hẳn nhiên đúng thực chất nhà nước như vậy, thì việc lo cho dân từ đời sống vật chất, tinh thần là trách nhiệm của mình. Ngay cả Hồ Chí Minh cũng đã từng nói: “Việc gì có lợi cho dân, phải hết sức làm, dù là việc nhỏ. Việc gì có hại cho dân, phải hết sức tránh, dù là việc nhỏ”. Không rõ mấy năm qua, cái gọi là phong trào “học tập và làm theo” ở nơi đây, hệ thống cầm quyền có nhắc đến mấy câu đó?

Cách đây vài ngày, tại Hoa Kỳ, Nguyễn Phú Trọng còn cao giọng rằng: “Tôi khẳng định rằng Việt Nam hết sức coi trọng vấn đề nhân quyền, quyền con người”, và “Cộng đồng Việt Nam chúng tôi có lẽ chưa bao giờ có được một đời sống dân chủ như bây giờ.”

Có lẽ khi phát biểu những lời này, ông ta quên rằng ở Việt Nam, vẫn có nhiều nơi như Đông Yên? Hay ông ta cho rằng Đông Yên không thuộc “cộng đồng Việt Nam” của ông ta?

Mặc dù nơi định cư mới, nhà cầm quyền đang thất hứa đẩy cả mấy ngàn con người vào đời sống vô vọng và quẫn bách, nhưng họ vẫn hăng hái trong việc đập phá Nhà xứ và công trình của giáo xứ Đông Yên, dù ở đó vẫn còn gần ngàn giáo dân sinh sống. Theo thói cậy súng và cậy bạo lực, nhà cầm quyền đã huy động công an, cảnh sát với các thiết bị mua bằng tiền dân đến đập phá các công trình họ đã xây bằng xương máu, mồ hôi và nước mắt bao đời.

Với những lời hứa, những sự nhũn nhặn ban đầu đã tạo được chút lòng tin nơi Đức Giám mục Giáo phận và giáo quyền đã hợp tác thời gian qua trong việc đưa mấy ngàn dân đến nông nỗi hiện tại. Thế nhưng, khi việc đập phá các công trình của giáo dân Đông Yên vấp phải sự phản đối quyết liệt của dư luận, thì lập tức, những luận điệu đảo ngược, bôi xấu giáo quyền lập tức được sử dụng.

Những sự trở mặt đó không lạ, người ta đã thấy xuất hiện ở Nghệ An qua các vụ việc như Ngọc Long và Mỹ Yên.

Mới đây, trong một cuộc họp do Tỉnh Hà Tĩnh tổ chức, có mặt Đức Giám mục Giáo phận, một số linh mục cùng tham dự, các bộ Hà Tĩnh đã “lên án” ĐGM đã “không thực hiện lời hứa khi di chuyển linh mục Tuấn khỏi Giáo xứ khi chưa đưa được giáo dân đi hết khỏi Đông Yên”(?) và ngay lập tức trên mạng Internet xuất hiện bài viết chửi rủa ĐGM Giáo phận mà ai cũng biết tác giả của những thứ bẩn thỉu đó là ai và từ đâu đến.

Cũng trong cuộc họp đó, một cán bộ tuyên bố rằng: “Khi TGM đã nhận tiền đền bù, theo luật, thì chúng tôi có quyền đập nhà thờ”. Tuy nhiên, cũng ngay lập tức, một linh mục đã có ý kiến rõ ràng: Việc đập phá công trình nhà thờ, là việc hết sức nghiêm trọng cần được sự đồng thuận của người dân. Nếu nhà cầm quyền lấy “luật” của mình để đập phá nhà thờ khi giáo dân còn đó, thì chúng tôi cũng thực hiện theo Luật của giáo hội – luật này được nhà nước hiển nhiên công nhận – rằng hễ còn giáo dân, thì chúng tôi còn phục vụ cho đến người cuối cùng. Dẫu cho phải dựng lều, cắm trại để phục vụ họ.

Có lẽ, cho đến bấy giờ sự tử tế, sự hữu hảo của những người cộng sản đã phần nào thể hiện khá đầy đủ qua vụ việc Đông Yên. Hậu quả của sự tử tế đó như thế nào, qua những chứng cứ nói trên, đã khá phong phú.

Thiết nghĩ rằng không cần quá nhiều ví dụ đau đớn hơn nữa.

Dẫu sao, một Đông Yên đã lâm vào tình cảnh hiện tại là điều những người có lương tri không ai mong muốn. Thế nhưng, nếu không rút ra những kinh nghiệm, những đúc kết, thì sẽ không chỉ có một Đông Yên, mà sẽ còn nhiều Đông Yên tương tự.

(Còn nữa)

Hà Tĩnh, Hà Nội, ngày 12/7/2015

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 10/07/2015

Vui: Lẩy Kiều

Trong cuộc thăm viếng Việt Nam của Tổng Thống Bil Clinton trước đây, vào tháng 11/2000, ông đọc hai câu thơ Kiều khi đề cập chiều hướng phát triển của quan hệ hai nước: 

“Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”
.

Thế rồi, mới đây, khi đón tiếp Nguyễn Phú Trọng, Phó Tổng thống Mỹ Biden cũng đã lẩy hai câu Kiều như sau:

“Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”

Lẽ ra, với tư cách là người Việt Nam, nơi xuất xứ ra Truyền Kiều, ông Nguyễn Phú Trọng và cả đoàn cao cấp Việt Nam sẽ không bỏ lỡ dịp này để truyền bá văn hóa Việt Nam cho người Mỹ và thế giới đang chăm chú theo dõi. Nhưng không, cả hai lần, phía Việt Nam đã coi như không nghe thấy và coi như không hưởng ứng.

Thiết nghĩ rằng, Truyện Kiều đã đi sâu vào nền văn học và đời sống Việt Nam từ rất lâu. Từ ngâm Kiều, lẩy Kiều, nhại Kiều rồi thậm chí còn cả Bói Kiều.

Nhân dịp này, chúng ta thử lẩy một số đoạn Kiều trong bối cảnh Việt Nam:

(Hình ảnh từ mạng Internet. Thơ được trích từ Truyền Kiều của Nguyễn Du)

Vừa tuần nguyệt sáng, gương trong,
Tú bà ghé lại thong dong dặn dò:
Nghề chơi cũng lắm công phu,
Làng chơi ta phải biết cho đủ điều .
Có ba mươi lạng trao tay,
Không dưng chi có chuyện này, trò kia !
Rồi ra trở mặt tức thì,
Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời !

Sao bằng lộc trọng quyền cao,
Công danh ai dứt lối nào cho qua?
Nghe lời nàng nói mặn mà,
Thế công Từ mới trở ra thế hàng.
Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
Hẹn kỳ thúc giáp quyết đường giải binh.

Rồi ra trở mặt tức thì,
Bớt lời, liệu chớ sân si, thiệt đời !
Nàng rằng: Thề thốt nặng lời,
Có đâu mà lại ra người hiểm sâu !
E thay những dạ phi thường,
Dễ dò rốn bể khôn lường đáy sông!
Mà ta suốt một năm ròng,
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nàọ
Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,
Song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn.
Đêm thâu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.
Lối mòn cỏ nhợt mù sương,
Lòng quê đi một bước đường, một đau .
Thuyền quyên ví biết anh hùng,
Ra tay tháo cũi, sổ lồng như chơi !
Song thu đã khép cánh ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh.
Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,
Cám lòng chua xót, nhạt tình chơ vơ .
Những là lần lữa nắng mưa,
Kiếp phong trần biết bao giờ mới thôi ?
Đánh liều nhắn một hai lời,
Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.
Đem người giẩy xuống giếng khơi,
Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay !

Thôi đà mắc lận thì thôi !
Đi đâu chẳng biết con người Sở Khanh?
Bạc tình, nổi tiếng lầu xanh,
Một tay chôn biết mấy cành phù dung !

Hà Nội, 10/7/2015

  • J.B Nguyễn Hữu Vinh
Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 07/07/2015

Vài điều lo ngại khi Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ

Như vậy, dù phải vất vả, gò gẵng mãi, bộ phận ngoại giao hoạt động hết công suất, cuối cùng thì Nguyễn Phú Trọng, TBT Đảng CSVN cũng đặt chân được lên đến nước Mỹ vào ngày hôm nay.

Thiếu logic

Có lẽ, đây là điều mà nói theo giới trẻ Việt Nam đang học cách quảng cáo của một nhà bán điện thoại rằng: “Không thể tin nổi”. Sở dĩ không thể tin nổi một sự kiện, dù đang diễn ra thực tế, đó chỉ là vì một TBT Đảng CS vốn là tiến sĩ xây dựng đảng, lại đặt chân đi thăm một đất nước mà cái Đảng CS Mỹ chỉ còn lại lèo tèo mấy mống trên danh nghĩa. Lẽ ra ông Nguyễn Phú Trọng có thể đến thăm cái đảng này và huấn luyện cho họ cách “xây dựng đảng” theo mô hình Việt Nam thì hẳn là hợp lý và hợp tình vì ông đang thực hiện cái gọi là “Nghĩa vụ quốc tế vô sản”.

Nhưng không, ở chuyến thăm này ông đến thăm đất nước, chính phủ Hoa Kỳ, có kế hoạch gặp cả Tổng thống Obama, một thể chế chính trị mà mới cách đây 6 ngày, trong buổi kỷ niệm Nguyễn Văn Linh, ông ta vẫn “kiên định” rằng đây vẫn là một “đế quốc Mỹ xâm lược”.

Nhiều bạn trẻ, vốn được giáo dục từ bé về Đế quốc Mỹ tàn bạo, nguy hiểm, về chủ nghĩa tư bản đang giãy chết, về “sự sáng suốt và kiên định chống đế quốc, thực dân của đảng ta mấy chục năm qua, góp phần công lao lớn cho phong trào Cộng sản quốc tế” đã thắc mắc rằng: Vậy ông Nguyễn Phú Trọng lại đến thăm Mỹ làm gì?

Thông thường, cha ông ta dạy rằng “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, vậy lẽ nào một thủ lĩnh cộng sản luôn tự cho mình là người “chống đế quốc xâm lược, thực dân, giải phóng thế giới” lại đi thăm và bắt tay với “bọn đế quốc xâm lược” có phải là điều tréo ngoe? Chẳng lẽ đảng ta từ chỗ vinh quang, kiêu hãnh đến thế giờ hạ mình chơi với những kẻ “không đội trời chung”? Thậm chí còn hy vọng rằng ông Tổng Bí thư có thể sang đó với sứ mệnh “phân hóa nội bộ Obama” – tiếp tục sự nghiệp mà Nguyễn Minh Triết trước đây đã làm dang dở mà chưa có kết quả chăng?

Những câu hỏi đó của các bạn trẻ, thật khó để trả lời trong thời điểm, giai đoạn hiện nay. Bởi việc “đảng ta” chuyển thù thành bạn, chuyển bạn thành thù là chuyện như trở bàn tay. Bởi trong thực tế, sau hai phần ba thế kỷ, cướp được chính quyền và “lãnh đạo tuyệt đối” đối với đất nước này, ngoảng đi ngoảnh lại Việt Nam chúng ta làm gì còn bạn? Đến như đàn em Campuchia, biết bao xương máu người dân đổ xuống trên đất nước họ, giờ cũng trở mặt cắn đàn anh không thương tiếc thì hòng gì chơi được với ai. Đến như ông anh họ Bành ở phương Bắc, ngon ngọt, thơn thớt vậy vẫn hoặc âm thầm, hoặc dùng súng đạn “thăn” dần của thằng em từng miếng đất, từng hòn đảo một và giờ thì ngang nhiên vẫy vùng trong ao nhà thằng em mà nhà cầm quyền Việt Nam vẫn phải nở những nụ cười như mếu ca ngợi 4 tốt và 16 chữ vàng. Đến như ông bạn vàng Cuba kia, đã từng thề nguyền “Cuba thức cho Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ” – Nguyễn Minh Triết – giờ cũng bỏ gác luôn, kệ mẹ thằng Việt Nam ôm súng “canh giữ hòa bình cho thế giới” đấy thôi.

Dù sao, thì Nguyễn Phú Trọng cũng đã đặt chân đến nước Mỹ. Chúng ta chúc cho chuyến đi của ông thành công. Có thể ông ta học được điều gì ở đó ngoài việc xây dựng đảng CS là chuyên nghề của ông ta thì đất nước Mỹ, điển hình của Chủ nghĩa tư bản giãy chết sẽ để lại cho ông ấn tượng nào đó về cái “giãy chết” của nó mà rút cho mình vài bài học, ít nhất là trong lời ăn tiếng nói trước bàn dân thiên hạ, để cái danh hiệu “Lú” không được thường xuyên người dân sử dụng mỗi khi thấy ông mở miệng.

Đôi điều lo ngại

Khi nghe tin Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, nhiều người tỏ ra e ngại, dù nói ra hay không, nhưng những người dân Việt Nam có tự trọng và biết xấu hổ vẫn có những điều e ngại với chuyến đi này. Sở dĩ như vậy, là vì dù sao, ông ta cũng mang danh là người Việt Nam, lại còn tự xưng là một “Đại đầy tớ” của nhân dân. Mà cha ông ta đã dặn chẳng hay ho gì khi “Người dại để… thì người khôn xấu mặt”.

Những e ngại của họ, bắt đầu từ những chuyến đi, những lời nói của ông Tiến sĩ xây dựng đảng này ở trong và ngoài nước thời gian qua. Không chỉ qua những chuyến đi của chính ông, mà cả những chuyến đi của đồng chí, đồng bọn của ông đến nước ngoài, cũng đã là những điều mà ông cần rút kinh nghiệm trong chuyến đi này.

Vốn tự cho mình cái quyền được “phán” nên nhiều khi ông chẳng phân biệt được trong hay ngoài nước, thần dân của mình hay quan khách ngoại giao… cứ vậy là ông vung tay chém gió để lại nhiều điều trong dư luận mà nhiều khi nghe, thấy thì là người Việt Nam, ai cũng thấy xấu hổ.

Chẳng hạn, cách đây 3 năm, khi trong nước mùa giáp hạt, người dân trong nước đang đói rã họng, ông mang theo 5.000 tấn gạo của dân sang cho Cuba để rồi ông phán về Chủ Nghĩa Xã hội. Thế rồi ở đó ông thả sức phóng miệng bạt mạng chẳng biết sờ gáy mình đã đành, nhưng cũng chẳng kiêng nể gì chủ nhà chút nào. Trong lúc Cuba đang đói xiêu vẹo và kinh tế thảm hại, ông phát biểu như thế này thì có như đấm vào mặt chủ nhà hay không: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu nghèo càng lớn. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế – tài chính đã tràn vào lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế”.

Hoặc ông nói về Chủ nghĩa Tư bản, nhưng người nghe chẳng khác gì ông đang nói chuyện nhà mình, rằng: Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.

Những động tác “chém gió” của ông tại Cuba đã gây nên sự tai hại, Tổng Thống Brazil Dilma Rousseff đã phải không ngần ngại cấm cửa ông, không cho ông vào đất nước họ, dù đã có một quá trình sắp xếp công phu và tốn kém và nhất là sĩ diện của một đất nước. Không rõ, khi đó ông nghĩ gì, vì sau đó khi được Vatican chấp nhận ông đến thăm, ông tự hào rằng thì là: “Mình có thế nào thì người ta mới đón mình như thế”.

Vậy nên, điều lo ngại rằng không biết ông có rút ra được “bài học kinh nghiệm” như cái đảng của ông vẫn thường xuyên “rút” ở Việt Nam, cho chuyến thăm nước Mỹ này của ông hay không?

Còn nhớ, khi đến Mỹ mới đây, Phạm Quang Nghị đã mang tặng ngài Thượng nghị sĩ J.McCain hai tấm hình chụp chiếc bia, ghi hình ảnh ông là phi công đang giơ tay đầu hàng. Quả thật, quà tặng nói lên tư cách của người tặng. Món quà này, chẳng khác gì một cái tát và một sự chế diễu, thể hiện sự thô lỗ thiếu văn hóa của người tặng.

Người ta lo ngại với tư duy và cái đà này, Nguyễn Phú Trọng rất có thể sẽ tặng Obama tấm ảnh chụp những tấm Bia Căm thù đế quốc Mỹ gắn ở Nhà thờ Tam Tòa, hoặc hình ảnh chiếc trực thăng cuối cùng trên nóc nhà ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn năm 1975 hay tấm hình những người lính Mỹ cuốn cờ về nước.

Cũng hy vọng rằng, ở Mỹ, Nguyễn Phú Trọng sẽ được nhìn thấy phần nào cái cơ chế, thể chế “nhà nước pháp quyền” được vận hành ra sao mà không cần cái đuôi XHCN. Để rồi không phải đưa ra những lời biện bạch cho nạn tham nhũng, hối lộ dưới sự “lãnh đạo sáng suốt của ĐCSVN” rằng thì là: “Đến Đường Tăng đi lấy kinh cũng phải hối lộ“. Bởi những lời nói đó trước quan khách quốc tế, chẳng khác nào sự cổ vũ cho nạn hối lộ, tham nhũng thành không chỉ là quốc nạn, mà là quốc tế nạn.

Điều đáng lo ngại nữa, là khi ông Nguyễn Minh Triết sang Mỹ trước đây, phát biểu với báo chí nước ngoài một nẻo, về trong nước báo chí cắt xén thành đi một đàng. Nên lưu ý ông Trọng, thời này đã có internet, mà Internet thì người dân khắp nơi trên địa cầu đều có thể theo dõi và truy cập được từng động tác của ông, chứ không như thời rừng rú xưa kia muốn cắt là cắt, muốn xén là xén.

Một điều nữa, cần lưu ý ông Nguyễn Phú Trọng rằng, ở nước ngoài Mỹ, là đất nước đa nguyên, đa đảng, nếu theo quan điểm của ông thì đó là “suy thoái” thì cũng đừng nên lo “diễn biến nội bộ” của họ, mà trước hết hãy lo cho tư cách và vị thế của mình.

Và điều cuối cùng, xin ông dù có thất vọng, thì cũng không nên nói với Obama rằng: “Không biết đến cuối thế kỷ này, ở Việt Nam đã có Chủ nghĩa xã hội phát triển hay chưa” mà làm nản lòng ngay cả các thế lực thù địch.

Bởi, các thế lực thù địch” của đảng, đang mong ngày mong đêm, mong sao cho cái Chủ nghĩa xã hội kia càng sớm thành công, thì họ càng sớm nhìn thấy ngày tàn của Đảng Cộng sản.

Đó phải chăng cũng là ước mơ của cả đất nước, cả dân tộc.

Hà Nội, 7/7/2015, Ngày Nguyễn Phú Trọng lên đường thăm Mỹ

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 01/07/2015

Thăm lại Đông Yên: Thảm cảnh của nhiều thế hệ – Phần IV

Trên con đường dẫn vào Giáo xứ Đông Yên một thời sầm uất, chúng tôi bắt gặp những đứa trẻ lấm lem quẩn quanh chui trong những căn nhà đổ nát tránh nắng, những em bé ngồi thẩn thơ vô hồn bên các vệ đường. Hỏi về hiện tượng này, người dân ở đây cho biết: 155 học sinh của bà con giáo dân ở đây, đã bị buộc không cho đi học cả năm trời nay. Năm học vừa qua khi học sinh cả nước đến trường, thì những học sinh ở đây chỉ biết hàng ngày chui vào các ngôi nhà hoang chơi trò trốn tìm hoặc lang thang đâu đó vô cùng nguy hiểm trong đống đổ nát, hoang tàn.

Và câu chuyện của người dân nơi đây, đặt ra cho chúng tôi câu hỏi: 158 hộ dân với 155 đứa trẻ trong độ tuổi đến trường họ có còn là công dân Việt Nam? Các cháu bé có tội tình gì và luật pháp có còn ảnh hưởng đến vùng đất này không?

Bởi dù sao thì vùng đất này vẫn đang nằm ngoài khu vực bán cho Tàu – Đài Loan.

Những trò đểu cáng, tàn độc với trẻ thơ

Trước hết, để làm áp lực buộc người dân nơi đây, ngoài các biện pháp như đã nói ở trên, buộc các giáo dân vâng lời ngoan ngoãn ngậm ngùi chùi nước mắt ra đi, thì đối với những hộ dân không chấp nhận đền bù và di chuyển, họ phải trải qua muôn cay, nghìn đắng. Trong khi, ước nguyện của họ chỉ là được ở lại mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình mà hiện chưa biết dùng làm gì.

Trong tổng số giáo dân Đông Yên, có 158 hộ dân với khoảng 800 người không di chuyển.

Những hộ dân đang canh tác, gieo cấy lúa trên đồng ruộng, chợt một ngày có người xịt thuốc chết sạch.

Những hộ dân chấp nhận di dời, dù xen kẽ trong hoặc giữa xóm, thì đầu tiên là nhà cửa phải đập bỏ. Những ngôi nhà còn lại nhỏ nhoi, trơ trọi trong đống đổ nát hoang tàn, chịu cái nắng nóng như đốt của miền Trung về mùa hè và cái lạnh cắt da về mùa đông.

Điện thì có hay không tùy thích, đời sống muôn vàn cực khổ cộng thêm sự thù địch và phân biệt, chia rẽ tạo cho họ những áp lực tinh thần ghê gớm.

Nhưng, đểu nhất, thất nhân tâm nhất là người ta đã dùng chính trẻ con, con cháu họ để làm con tin buộc họ khuất phục rời bỏ mảnh đất cha ông.

Ngay từ khi nói đến chuyện di dời, các hộ dân bận rộn lo lắng, thì nhà nước tổ chức đập phá ngay ngôi trường của các cháu nhỏ. Hệ thống nhà trường, thầy cô giáo rút hết ra khỏi khu vực, biến một khu vực với hơn 800 con người trắng về cả y tế lẫn giáo dục.

Vùng Đông Yên biệt lập với những vùng khác, bên cạnh là vùng đất Formosa rộng lớn và rào kín, các cháu như kiến giữa bãi cát không thể đi lại. Kể từ đó, các cháu thất học và bơ vơ.

Người dân Đông Yên đã kêu cứu khắp nơi, lo lắng cho con cái mình, họ chạy đến từ Tỉnh ra Trung Ương, rồi Thanh tra Chính phủ… Đơn đi, thư lại chạy tít vòng quanh. Nhưng, một năm qua, khi trẻ thơ cả nước cắp sách đến trường, thì 155 cháu học sinh, con cái của những người dân Đông Yên còn lại nơi đây không hề được đến lớp.

Hành động của nhà cầm quyền tại đây tước bỏ quyền được học hành của các cháu, là hành động vi phạm pháp luật rõ ràng. Luật Giáo dục duy định:

“Điều 10. Quyền và nghĩa vụ học tập của công dân
Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng.
Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.

Điều 11. Phổ cập giáo dục
1. Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập. Nhà nước quyết định kế hoạch phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục trong cả nước
.”

Luật ghi rõ ràng là vậy, nhưng cách thực hiện của nhà cầm quyền Hà Tĩnh như chúng tôi đã nói ở trên. Đã một năm học qua đi, 155 học sinh tại Đông Yên không được đến trường. Năm học mới sắp đến, các cháu vẫn đang chưa biết có cơ hội nào để được học tiếp.

Nhà cầm quyền Hà Tĩnh hành xử với trẻ em ở Đông Yên, có phải là sự chà đạp pháp luật một cách trắng trợn không chỉ Luật giáo dục, mà còn hàng loạt các văn bản luật pháp khác, trong đó, có Luật trẻ em. Ở đó ghi rõ:

“Điều 4. Không phân biệt đối xử với trẻ em

Trẻ em, …không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc người giám hộ, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật.

Điều 5. Trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

1. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân. Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu.

Điều 6. Thực hiện quyền của trẻ em

1. Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện.

2. Mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.”

Có thể nói rằng, với người lớn khi có những mâu thuẫn, họ tranh cãi, chém giết lẫn nhau là chuyện vẫn có thể. Nhưng, dùng con trẻ làm con tin, thì xưa nay chưa có nước nào, nơi nào trên thế giới có thể làm được như vậy ngoại trừ bọn khủng bố và côn đồ. Nhất là với tư cách nhà cầm quyền, nhà nước “của dân, do dân và vì dân” mà lại dùng những ngón đòn hèn hạ này, thì đó gọi là nhà nước gì?

Bởi trẻ thơ tội tình gì mà nên nỗi. Nhìn các cháu bơ vơ bên vệ đường, trong các ngôi nhà sập đổ, tôi thấy như văng vẳng bên tai câu thơ của Hồ Chí Minh: “Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”. Mới năm ngoái đây thôi, ở ngôi trường này, các cháu còn buộc phải thuộc lòng bài hát: “Ai yêu các em nhi đồng bằng bác Hồ Chí Minh”.

Vậy mà chỉ vì bố mẹ không chịu chấp nhận bị đuổi đi khỏi nơi chôn rau cắt rốn, mà các cháu đã bị biến thành con tin của nhà nước luôn hô hào “lấy giáo dục làm quốc sách”!

Báo chí, kể cả báo chí nhà nước lên tiếng về những trẻ em đã bị biến thành con tin này, nhưng tất cả như đá ném ao bèo. Khi nói đến điều này, một người dân nói với tôi: “Ở đây họ sợ gì, Thanh tra chính phủ công bố việc cho Tàu thuê 70 năm là trái luật, thì lập tức đã có Thủ tướng đỡ lưng cho họ. Mấy quan huyện và xã câu kết với nhau chiếm đoạt tham nhũng hàng chục tỷ đồng rồi vẫn cứ làm ngơ. Vậy thì chuyện trẻ con không được đi học vì bố mẹ không vâng lời nhà nước là chuyện cỏn con. Ở vùng này, bây giờ họ làm gì chẳng được”.

Di chuyển cơ sở tôn giáo – đòn quyết định hạ gục

Khi trên mạng Internet xuất hiện nhiều hình ảnh, video được cho là Công an đập phá cơ sở tôn giáo của Giáo xứ Đông Yên đã gây nên một sự xúc động mạnh mẽ và một làn sóng dư luận phản đối dữ dội trên mạng. Ngay lập tức, một số kẻ đã đưa những hình ảnh Lễ đặt viên đá Nhà thờ xứ Đông Yên mới do ĐGM Giáo phận chủ trì có mặt của TGM đại diện không thường trực Tòa Thánh và các cán bộ Tỉnh Hà Tĩnh. Hẳn nhiên, ai cũng biết người nào đưa lên những hình ảnh đó nhằm mục đích gì.

Điều đó đã gây nên hiện tượng nhiễu loạn thông tin.

Tìm hiểu về vấn đề này các giáo dân ở đây cho chúng tôi biết như sau:

Kể từ hàng trăm năm trước, khi đến lập làng ở đây, người giáo dân Đông Yên đã chăm chút và cần mẫn lao động, bỏ biết bao công sức, mồ hôi, xương máu để xây dựng nên Thánh đường, các công trình thuộc nhà xứ, tượng đài… ngày càng sầm uất làm nơi hội họp và thờ phượng. Những đồng tiền từ mồ hôi nước mắt và cả mạng sống của họ trên biển đã xây dựng lên một cơ ngơi đồ sộ và là niềm tự hào của Giáo dân Đông Yên.

Thế rồi, khi việc di dời Giáo xứ chưa ngã ngũ chuyện ở hay đi, thì Giáo phận nhận số tiền đền bù của nhà nước để đi xây cơ sở mới.

Và chính vì thế, nhà cầm quyền đã huy động đủ loại cảnh sát và các thiết bị đến đập phá nhà xứ Đông Yên. Bởi đó là cơ hội ngàn vàng cho nhà cầm quyền Cộng sản. Thậm chí ở nhiều nơi không cần đền bù, không cần một ý kiến, giáo dân và giáo hội có phản đối, thì nhà cầm quyền Cộng sản còn xông vào cướp không, đập phá như chỗ không người còn được cơ mà. Huống chi, ở đây Giáo phận đã nhận tiền đền bù. Khi đã có súng đạn trong tay, thì việc “đền bù” được coi như một ân sủng mà nhà cầm quyền ban phát.

Hẳn nhiên, theo Giáo luật thì mọi cơ sở của Giáo xứ, giáo hội thuộc quyền quyết định của Giám mục. Giáo dân Đông Yên biết điều đó. Thế nhưng, ngoài những người chấp nhận bỏ làng ra đi, vẫn còn 158 hộ dân với hơn 800 nhân danh kiên quyết ở lại họ sẽ lấy nơi nào để thờ phượng? và quyền lợi của họ được sự chăm sóc sẽ là nơi đâu? Khi Giáo quyền nhận sự “đền bù” để phục vụ những giáo dân ngoan ngoãn di chuyển đến nơi mới, thì có tính đến quyền lợi của những người quyết ở lại nơi này hay không? Sự chăm sóc cho họ như thế nào? Hay họ lại trở lại giai đoạn ban đầu cha ông họ khi đến đây lập nghiệp? Hiện nay, duy nhất ngôi nhà thờ còn chưa bị đập, và mỗi tuần có 2 Thánh lễ.

Nhưng, tương lai sẽ ra sao? Đó là những điều giáo dân nơi này trăn trở và mới đây, họ đã kéo nhau đến Tòa giám mục để hỏi về chuyện này.

Phải chăng, phía giáo quyền cũng đinh ninh rằng: Với súng đạn, chó và cảnh sát với những thiết bị hiện đại được sắm bằng tiền của dân nhằm đàn áp nhân dân, thì những người dân nơi đây không thể nào trụ lại được với bạo quyền và súng đạn mà buộc phải ra đi?

Suy nghĩ này liệu có tương tự như Phó CT cái gọi là Quốc hội của CSVN, ông Thượng tướng Huỳnh Ngọc Sơn giải thích thái độ ươn hèn của nhà nước trước Tàu Cộng rằng: “Ta như thế này thì bà con thấy ta có ăn thua với họ được không”? Và rồi cứ để mất nước để rồi “Chờ đến đời con cháu ta đòi lại”. Chính cái tư duy cá lớn nuốt cá bé của cộng sản đã được thực hiện trọn vẹn qua câu nói dân gian “Hèn với giặc, ác với dân”, tạo ra nỗi khiếp sợ và nâng cao sự hèn đớn, an phận.

Và mọi sự đã diễn ra một thực tế hôm nay?

Cũng hẳn nhiên là người giáo dân, khi đã phó thác và tin vào Thiên Chúa, những vấn đề vật chất và cuộc sống vất vả chẳng là gì với họ. Họ sẵn sàng chấp nhận hy sinh nhiều hơn nữa cũng chẳng từ nan. Thế nhưng, nhiều khi trong cuộc sống, nhiều vấn đề đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống vật chất và tinh thần mà lỗi không phải là của họ. Trước hết là tan nát sự đoàn kết, nhất trí một lòng để tạo nên một Đông Yên kiên cường, vững chắc ngày nào.

Có thể nói rằng: Ở Đông Yên, nhà cầm quyền CS đã thực hiện một cách xuất sắc mục đích của họ: Một Đông Yên tan nát và huyền thoại Đông Yên bị dập tắt. Chính những âm mưu, những mưu đồ của nhà cầm quyền là nguyên nhân mọi nỗi bất hạnh của người dân Đông Yên hôm nay và còn dai dẳng đến mai sau.

Còn tất cả, chỉ là những nạn nhân như mọi nạn nhân của thời Cộng sản.

Hà Tĩnh, Hà Nội, ngày 1/7/2015

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Đăng bởi: J.B Nguyễn Hữu Vinh | 25/06/2015

Thăm lại Đông Yên: Thảm cảnh của nhiều thế hệ – Phần III

Đến Đông Yên lần này, chúng tôi được nghe kể lại những câu chuyện đã xảy ra thời gian qua tại đó, được nghe về những âm mưu, hành động và cách làm của nhà cầm quyền đối với người dân nơi đây. Quả thật, dù đã đi nhiều nơi với người dân mất đất, nghe nhiều chuyện và chứng kiến nhiều trò của nhà cầm quyền khi muốn cướp đất của dân.

Nhưng có lẽ chỉ có ở đây, những ngón đòn nhà cầm quyền sử dụng mới là “tuyệt chiêu”.

Những “tuyệt chiêu” – mớ bòng bong của nhà cầm quyền

Để những người dân Đông Yên, một xứ đạo toàn tòng và kiên vững, bất khuất có truyền thống phải ra đi khỏi đó là một bài toán khó cho nhà cầm quyền. Nó không như một số nơi khác, cứ máy xúc, máy ủi đến kèm Cảnh sát cơ động, công an và chó là xong. Nhà cầm quyền biết rõ điều này.

Trước đó qua những cuộc chạm trán nảy lửa của giáo dân đoàn kết phản đối việc tàu nước ngoài nạo vét cửa biển nơi họ làm ăn và họ đã phản ứng. Nhà cầm quyền đã không thể khuất phục họ và phải chấp nhận trợ cấp cho giáo dân số gạo ăn hàng tháng khi nghề khai thác biển không thể tiến hành để tập đoàn Formosa của Tàu hút nạo làm cảng biển.

Thế rồi, để đưa người dân đi, thay vì súng, đạn, công an, chó và bạo lực, họ sử dụng một chính sách mềm dẻo có định hướng tại đây.

Trước hết, qua những cuộc gặp gỡ, bàn bạc với phía Giáo quyền, nhà cầm quyền đã nhanh chóng đáp ứng được một số đòi hỏi nếu giáo dân nếu ra đi. Đó là thay vì đưa giáo dân đến một nơi đã định sẵn là vùng đất Kỳ Trinh sỏi đá, nhà cầm quyền đã mời Đức Giám mục và linh mục đích thân đi chọn nơi định cư. Và họ đã nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của phía Giáo quyền là chọn vùng Đèo Con. Nơi đây là vùng đất khả dĩ nhất có thể được của vùng đất xung quanh Vũng Áng. Ở đó đã có một khu du lịch sinh thái được kêu gọi đầu tư khá công phu. Nhưng họ đã chấp nhận khi Đức Giám mục cùng với linh mục và cán bộ Tỉnh đi tìm và chọn nơi đó cho Đông Yên tái định cư.

Điều đó tạo được tâm lý cho Linh mục và một số người coi như là một thắng lợi. Và được đà đó cùng với những lời ngọt nhạt và kính trọng, linh mục quản xứ đã hợp tác chặt chẽ với việc tiến hành dự án di dời. Người dân vốn đã bao năm vất vả, được vẽ cho một tương lai hứa hẹn đền bù thỏa đáng. Họ được ngân hàng tạo điều kiện cho vay vốn thoải mái để làm nhà cửa chờ đền bù. Có những lúc, cả Đông Yên như một công trường xây dựng.

Thế rồi nhà làm xong, nợ ngân hàng cứ đến tháng tính lãi mẹ đẻ lãi con. Tàu hút bùn xong đóng cọc thì công cảng thì cũng là lúc gạo hỗ trợ bị cắt. Kết quả là những người vay vốn ngân hàng ngày càng nóng mặt, tự nhiên vướng vào vòng nợ nần. Công việc làm ăn bị bỏ lửng, cuộc sống đảo lộn chẳng biết ngày nào đi, khi nào ở và khi nào được đền bù để có tiền trả nợ ngân hàng ngày càng hối thúc… Nhà cầm quyền chần chừ việc đền bù với những thông tin là do chống đối, là do không nhất trí nên chưa thể tiến hành. Họ biết rõ, cứ để càng lâu, thì tự những mâu thuẫn nội bộ người dân do những cách làm của họ sẽ phát huy tác dụng đưa cả Đông Yên vào vòng luẩn quẩn buộc phải ra đi.

Vốn là vùng đất toàn tòng, giáo dân có truyền thống tôn trọng linh mục và luôn vâng lời, kể cả trong lĩnh vực dân sinh. Cha xứ, với sự hăng hái của mình đã đưa đến kết cục không mong muốn, lúc đó, một áp lực vô hình nhưng vô cùng nặng nề đặt lên vai ngài mà lời giải lúc đó lại nằm trong tay nhà cầm quyền. Thế là những cuộc thăm dò ý kiến di dời hay không di dời được cha xứ cho tiến hành, những lời ra tiếng vào, những cuộc lễ lạt, ký tá, việc dùng nhà xứ cho cán bộ nhà nước họp hành… đã tạo ra một khoảng bất đồng trong giáo dân.

Và đó là cơ hội của những ngư ông đang đắc lợi. Nhà cầm quyền đã triệt để tận dụng cơ hội đó, còn linh mục quản xứ mắc vào vòng xoáy của những yêu cầu cuộc sống của giáo dân và những ý kiến phản ứng thì càng lúng túng và không còn đường để lùi.

Thế rồi sai lầm bắt đầu nối tiếp sai lầm trong hành xử, lời nói, trong đời sống cũng như trong phụng vụ đã tạo ra những bất đồng nghiêm trọng và giáo dân chia rẽ.

“Phép thắng lợi tinh thần” và “sự khôn ngoan của thế gian”

Cũng cần công tâm mà nói rằng, sự hăng hái của linh mục cũng như sự quan tâm của Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp đã có một kết quả, là thay vì phải đến vùng Kỳ Trinh, giáo dân Đông Yên chấp nhận di dời được “ưu tiên” đến vùng Đèo Con. Tuy nhiên, dù là Kỳ Trinh hay Đèo Con, thì đời sống mưu sinh của họ vốn cả đời bám vào biển cũng là một ẩn số không có lời đáp. Tương lai của họ là một khoảng trống mịt mù.

Nhưng, chính cái “thắng lợi” được nhà cầm quyền tạo ra đó đã làm cho sự hăng hái nhiệt tình càng tăng lên, thì cũng chính là nguyên nhân để tạo ra những phản ứng, những bất đồng trong Giáo dân Đồng Yên vốn được coi là mạnh mẽ và nhiệt thành.

Cái mà nhà cầm quyền CSVN cố tình đưa ra như một “thắng lợi” cho phía giáo dân và giáo quyền sử dụng thành một “phép thắng lợi tinh thần”. Để rồi những người trong cuộc vốn nhiều khi coi mình là khôn ngoan đã tự kích động sự say máu chiến thắng.

Nhưng, từ ngàn xưa Chúa đã dạy: “Con cái thế gian khi đối xử với đồng loại thì khôn khéo hơn con cái sự sáng” (Lk 16:8)”

Rồi cũng chính vì sự nhiệt tình hăng hái của  giáo quyền, mà nhà cầm quyền quyết định giành lấy thời cơ để “làm tắt” quy trình. Kết quả là người dân đập nhà cửa, bỏ lại đất đai ra đi, Tòa Giám mục nhận tiền đền bù nhà thờ nhà xứ, để khởi công rầm rộ với quan chức xây nhà thờ nơi định cư mới mà cả chính quyền lẫn giáo quyền quên mất một điều: Chưa hề có dự án nào được duyệt nói rõ vùng đất Đông Yên nhà cầm quyền muốn lấy để làm gì? Điều mà lẽ ra người dân phải được biết ngay từ đầu.

Nói chuyện với chúng tôi về vấn đề này, người dân cứ thắc mắc là không hiểu tại sao nhà cầm quyền lại quyết tâm và đầu tư âm mưu, công sức để lấy bằng được vùng đất Đông Yên này khi chưa hề có dự án nào được lập ra?

Trả lời câu hỏi này, có thể có hai hướng:

– Trước hết, đây là một đòn đánh vào một giáo xứ nổi tiếng kiên cường bất khuất từ thời kỳ những năm 60 của thế kỷ trước đến nay, luôn là cái gai nhọn khó chịu trong con mắt nhà cầm quyền. Nay đã buộc phải tan rã, đầu hàng và khuất phục. Đây sẽ là bài học được sử dụng cho những nơi khác, khi biết kết hợp giữa giáo quyền và nhà cầm quyền.

– Cũng có thể, họ không muốn có một giáo xứ Công giáo bên cạnh một khu vực của người Tàu, một nơi nhạy cảm và họ muốn biến thành một vùng vành đai trắng xung quanh để đường thông ra biển của dự án Formosa của Tàu được vắng vẻ.

Bởi nếu không vì những lý do đó, thì không có cái gì để lý giải được vì sao nhà cầm quyền quyết liệt và nhọc nhằn đến vậy với Đông Yên khi vùng đất này chỉ là một vùng cát trắng ven biển.

Thế rồi, khi những người dân ở Đông Yên ra đi, lên núi lập những khu định cư mới, có được ít tiền đền bù mua sắm và xây dựng xong thì sẽ là lúc trắng tay và bài toán mưu sinh vô cùng khó khăn tìm lời giải đáp.

Nếu như ở nơi định cư mới, người dân không có một hướng mưu sinh, một nghề nghiệp hoặc cơ sở để làm ăn, tồn tại, thì dĩ nhiên đi kèm đó là đói kém, khó khăn, tệ nạn và suy đồi đạo đức… vốn là những điều mà Giáo hội cố gắng khắc phục và xây dựng cả mấy trăm năm qua sẽ đứng trước nguy cơ đổ bể.

Và khi đó, sẽ là màn kịch phần hai của nhà cầm quyền đạo diễn nhằm khuất phục tận gốc tinh thần công giáo tại đây.

(Còn nữa)

Hà Tĩnh, Hà Nội 25/6/2015

·       J.B Nguyễn Hữu Vinh

Older Posts »

Danh mục

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 228 other followers